251. Giải pháp & hành động xử lý nợ xấu.

(ANVI) – Hội thảo Xử lý nợ xấu                                                                                  Hà Nội 06-10-2015    

 

Tham luận tại Hội thảo “Đánh giá kết quả tái cấu trúc ngân hàng và xử lý nợ xấu – Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam” (do Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức)

Có thể nói, việc xử lý nợ xấu trong ngành Ngân hàng chỉ có 1 yêu cầu, nhưng bao gồm 4 nhóm giải pháp và 8 nhóm hành động thực tiễn, đang vấp phải rất nhiều sự nhầm lẫn, bất cập, khó khăn, vướng mắc pháp lý.

  1. Một yêu cầu xử lý nợ xấu:

1.1. Nợ xấu (NPL) đang nằm trong ngành Ngân hàng chiếm phần lớn nợ xấu của cả nền kinh tế. Yêu cầu xử lý nợ xấu là một việc làm cần thiết và hiện nay vẫn đang là vấn đề cấp bách. Theo quy định tại Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21-01-2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam “Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” (dưới đây gọi chung là ngân hàng), thì nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và hoặc lãi đã quá hạn. Còn nợ xấu là nợ quá hạn và cả trong hạn thuộc các nhóm 3, 4 và 5 như sau:

Nợ nhóm 3: Là nợ dưới tiêu chuẩn, gồm 6 trường hợp, trong đó điển hình là nợ đã quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày và nợ chưa quá hạn nhưng đã được gia hạn lần đầu;

Nợ nhóm 4: Là nợ nghi ngờ, gồm 6 trường hợp, trong đó điển hình là nợ đã quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày và nợ chưa quá hạn nhưng đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;

Nợ nhóm 5: Là nợ có khả năng mất vốn, gồm 8 trường hợp, trong đó điển hình là nợ đã quá hạn trên 360 ngày và nợ chưa quá hạn nhưng đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên.

1.2. Khi nói đến việc xử lý nợ xấu là ám chỉ việc xử lý các khoản nợ vừa xấu vừa quá hạn, chứ không phải là xử lý nợ xấu nói chung. Việc xử lý nợ đến hạn là một nửa tất yếu của hoạt động cho vay; việc xử lý nợ quá hạn là việc quan trọng ngang với hoạt động cho vay và việc xử lý nợ xấu là việc quan trọng hơn cả hoạt động cho vay của ngành Ngân hàng. Để ngân hàng xảy ra nhiều nợ xấu, là một sự yếu kém của nền kinh tế. Chậm xử lý nợ xấu là một sự nguy hiểm đối với nền kinh tế. Không mạnh dạn xử lý nợ xấu, là một sự sai lầm trong nền kinh tế. Đặc biệt thực chất, nợ xấu tín dụng ngân hàng không chỉ dừng lại ở con số dưới 3% đang nằm trong các ngân hàng thương mại.

  1. Bốn nhóm giải pháp xử lý nợ xấu:

2.1. Trì hoãn nợ:

Đây là nhóm giải pháp xử lý nợ tạm thời, thông qua việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ, khoanh nợ; chuyển giao nợ cho Công ty Quản lý và xử lý nợ (AMC) của chính ngân hàng mình; bán nợ tạm thời (mua bán trong một thời hạn nhất định) cho pháp nhân, cá nhân khác; bán nợ không đứt đoạn (chưa thu hồi được tiền ngay và vẫn phải chịu trách nhiệm về khoản nợ) cho Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMC); hay còn gọi là việc đảo nợ, giãn nợ, hoãn nợ, gom nợ, nhốt nợ, cô lập nợ, chế biến nợ, dừng thu nợ, bao vây nợ, phong toả nợ, đóng băng nợ,…

Nhóm giải pháp này chỉ đẩy lùi thời điểm nợ (trong hạn và quá hạn) bị biến thành nợ xấu, là xử lý nhưng không thu hồi được nợ, không thay đổi số nợ (không làm tăng, giảm cả nợ gốc và nợ lãi, ngoại trừ trường hợp khoanh nợ đồng thời với việc dừng tính và thu lãi). Việc bán nợ rất thành công cho VAMC trong thời gian qua chủ yếu thuộc về nhóm giải pháp này, thông qua việc hạch toán loại trừ một phần hay toàn bộ khoản nợ khỏi sổ sách kế toán.

2.2. Giảm trừ nợ:

Đây cũng là nhóm giải pháp hạch toán loại trừ một phần hay toàn bộ khoản nợ khỏi sổ sách kế toán, thông qua việc miễn giảm nợ gốc, nợ lãi, phí, tiền phạt và sử dụng dự phòng tín dụng (để giảm nợ gốc), hay còn gọi là giảm nợ, bớt nợ, miễn nợ, xoá nợ.

Nhóm giải pháp này cũng không thu hồi được nợ, mà chỉ là việc gạt bỏ nợ, đồng thời với việc tăng chi phí, giảm lãi, là nhận phần thiệt hại về phía ngân hàng. Trường hợp vẫn tiếp tục thu hồi được nợ sau đó, thì ngân hàng không hạch toán vào khoản thu nợ tín dụng, mà sẽ được tính vào khoản thu nhập khác.

2.3. Bù trừ nợ:

Đây là nhóm giải pháp bù trừ nghĩa vụ trả nợ giữa các bên với nhau, thông qua việc “nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ” trả nợ, hay còn gọi là việc đối trừ, khấu trừ, cấn trừ nợ. Tài sản để bù trừ nghĩa vụ trả nợ có thể là tài sản bảo đảm tiền vay hoặc tài sản khác của người vay, tài sản của người bảo đảm hoặc của người khác. Một dạng nữa cũng có thể gọi là bù trừ nợ, đó là việc chuyển khoản nợ thành cổ phần (tại công ty cổ phần) hoặc phần vốn góp (tại công ty TNHH) của chính công ty mắc nợ.

Nhóm giải pháp này không trực tiếp mà là gián tiếp thu hồi nợ, bằng cách loại trừ được nợ xấu tương đương với số nợ đã được bù trừ. Trường hợp sau này ngân hàng bán hoặc  hưởng lợi từ tài sản, cổ phần, phần vốn góp nhận bù trừ nợ, mà thu được số tiền ít hơn số nợ đã bù trừ, thì coi như là khoản lỗ, khoản đầu tư không hiệu quả đối với hoạt động mua bán tài sản hay đầu tư tài chính của ngân hàng.

2.4. Thu hồi nợ:

Đây là nhóm giải pháp thu hồi số tiền đã cho vay, gồm thu tiền trả nợ của người vay hoặc thu tiền trả nợ từ người khác; thu hồi nợ từ việc bán hẳn nợ (bán đứt đoạn, không mua lại) cho Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam (DATC) của Bộ Tài chính, VAMC, các ngân hàng, AMC của các ngân hàng khác, công ty mua bán nợ không phải của các ngân hàng hoặc các pháp nhân và cá nhân khác; thu hồi nợ từ tiền khai thác, sử dụng, cho thuê và phát mại tài sản bảo đảm; thu hồi nợ thông qua việc thanh lý tài sản khi giải thể, phá sản doanh nghiệp.

Việc xử lý nợ theo các giải pháp thu hồi nợ này là xử lý nợ thật sự, triệt để, thu hồi được tiền thật và xử lý được hoàn toàn, dứt điểm (toàn bộ hoặc một phần) nợ xấu.

2.5. Nhận xét về các giải pháp:

Bốn nhóm giải pháp xử lý nợ xấu nói trên, vừa là giải pháp kinh tế, vừa là giải pháp pháp lý. Để thực hiện được 4 nhóm giải pháp xử lý nợ xấu nói trên, phải thực hiện ít nhất 8 hành động. Chủ nợ là các ngân hàng đã và đang gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc để vượt qua được các quy định, thủ tục pháp lý và đáng tiếc là trong nhiều trường hợp, không có lối thoát.

  1. Tám nhóm hành động xử lý nợ xấu:

3.1. Xác minh thông tin tài sản:

Theo quy định của pháp luật tín dụng, thì ngân hàng được quyền xác minh, đánh giá, kiểm tra các thông tin về hoạt động, về tài sản bảo đảm và tài sản khác của con nợ, để xác định giải pháp xử lý nợ xấu. Việc này khá thuận lợi trước khi giải ngân và khi con nợ còn muốn hợp tác với ngân hàng. Tuy nhiên, nếu như nợ xấu đã xảy ra mà con nợ và người có tài sản thế chấp không muốn hợp tác, thì ngân hàng cũng gần như bất lực.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, thì giao dịch bảo đảm phải được đăng ký và công khai để hạn chế rủi ro cho các bên liên quan. Tuy nhiên, thật khó xác minh thông tin nói chung, thông tin về tài khoản và tài sản của con nợ nói riêng. Vì, theo quy định tại khoản 1, Điều 6 về “Bảo vệ thông tin của người tiêu dùng”, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, thì “Người tiêu dùng được bảo đảm an toàn, bí mật thông tin của mình khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.” Và theo quy định tại khoản 3, Điều 14 về “Bảo mật thông tin”, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, thì “Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi, các giao dịch của khách hàng tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho tổ chức, cá nhân khác, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc được sự chấp thuận của khách hàng.” (theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2007, thì chỉ phải bảo mật “thông tin liên quan đến tiền gửi, tài sản của khách hàng”).

Mấy năm trước, HD Bank đã từng đăng một thông báo cho thấy nỗi bất lực của ngân hàng. Đó là, ai cung cấp được thông tin về 2 chiếc xe ô tô thế chấp, sẽ được thưởng 50 triệu đồng.

Pháp luật không quy định cho các cá nhân, pháp nhân nói chung, cho các ngân hàng nói riêng về quyền được xác minh thông tin về tài sản bảo đảm và tài sản khác của con nợ. Thậm chí pháp luật tuy không quy định cấm, nhưng lâu nay vẫn “kiêng kỵ” đối với hoạt động điều tra dân sự.

3.2. Kê biên, thu giữ tài sản:

Theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm, thì ngân hàng được quyền kê biên, niêm phong, thu giữ tài sản bảo đảm để ngăn chặn tình trạng hư hỏng, thất thoát, xâm phạm đến tài sản bảo đảm, gây khó khăn cho việc thu hồi nợ. Tuy nhiên, nếu con nợ hoặc người có tài sản thế chấp không hợp tác, thì quyền đó có nguy cơ bị chặn đứng và buộc phải chuyển sang con đường khởi kiện tại Toà án hoặc Trọng tài theo quy định của pháp luật.

Nhà ở là loại tài sản thế chấp có giá trị và phổ biến nhất, nhưng việc thu giữ cũng khó khăn nhất, nếu như khách hàng không đồng ý và hợp tác. Luật bất thành văn là ngân hàng phải lo thay chỗ ở cho chủ nhà, phải di chuyển, bảo quản an toàn mọi thứ tài sản, chứ không thể đẩy ra đường (mặc dù pháp luật không quy định đó là trách nhiệm của ngân hàng).

Pháp luật cho phép một tài sản được thế chấp tại nhiều nơi và quyền ưu tiên thanh toán được thực hiện theo thứ tự đăng ký thế chấp. Tuy nhiên, điều này chỉ đúng với bất động sản và tài sản khác có đăng ký quyền sở hữu, còn đối với hàng hoá và các tài sản còn lại, thì thứ tự đăng ký thế chấp hầu như không có nghĩa lý gì nếu ngân hàng không trực tiếp chi phối, nắm giữ tài sản bảo đảm. Điều đó đã được minh chứng qua một loạt vụ việc tranh chấp hàng hoá là tài sản thế chấp giữa các ngân hàng với nhau tại một loạt công ty bị vỡ nợ như: Âu Mỹ (Hà Nội), Trường Phong (Thái Bình), Sông Hồng (Phú thọ), Thái Bảo (Quảng Trị), An Khang (Cần Thơ), Công Chính (Lâm Đồng), Trường Ngân (Bình Dương), Thái Sơn (Hải Phòng), Phương Nam (Sóc Trăng),…

Nếu cơ quan pháp luật tiến hành phong toả, kê biên, niêm phong, thu giữ tài sản bảo đảm, thì những người liên quan buộc phải chấp hành (vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính  hoặc hình sự). Ngân hàng cũng có quyền đó, nhưng nếu con nợ và chủ tài sản vi phạm thì lại trở thành “hoà cả làng”.

3.3. Phong toả, khấu trừ tài khoản:

Theo quy định của pháp luật ngân hàng về quản lý và sử dụng tài khoản, thì ngân hàng được quyền phong toả, khấu từ tiền trong tài khoản của con nợ tại chính ngân hàng mình và tại ngân hàng khác (nếu có thoả thuận) để thu hồi nợ. Tuy nhiên, nếu con nợ không muốn trả nợ, thì họ lập tức mở nhiều tài khoản ở ngân hàng khác. Về lý thuyết, thì ngân hàng này vẫn có quyền yêu cầu ngân hàng khác khấu trừ tài khoản, nhưng gần như không thực hiện được trên thực tế, vì ngân hàng nào cũng phải bảo vệ khách hàng của họ. Không có quy định nào của pháp luật bắt ngân hàng được “nhờ vả” phải làm việc đó, nếu không có quyết định của quan có thẩm quyền.

Thậm chí ngay cả trường hợp, cơ quan pháp luật tiến hành phong toả tài khoản, thì cũng dễ dàng bị đơn vị quản lý tài khoản cho “leo cây”. Vì thời buổi công nghệ hiện nay, chỉ trong vài giây là có thể chuyển tiền khỏi tài khoản trước khi lệnh phong toả được chuyển đến địa chỉ cần thiết. Các ngân hàng không phạm luật, vì pháp luật chỉ quy định phải chấp hành lệnh phong toả cụ thể, chứ không cấm thực hiện giao dịch khi mới có yêu cầu xác minh hay cung cấp thông tin tài khoản. Thậm chí theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014), thì Quyết định của Toà án về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong toả tài khoản có được chuyển đến ngân hàng thì cũng chưa có giá trị thi hành, mà phải thông qua thủ tục của cơ quan thi hành án. Và pháp luật cũng không có quy định phong toả “trọn gói” mọi tài khoản, mọi giao dịch, nên khi bị chặn tài khoản này thì con nợ vẫn dễ dàng giao dịch hợp pháp qua nhiều tài khoản khác hoặc bằng tiền mặt.

3.4. Khai thác, sử dụng tài sản:

Luật Các tổ chức tín dụng và pháp luật giao dịch bảo đảm cho phép ngân hàng được quyền nắm giữ, quản lý, khai thác, sử dụng tài sản để thu hồi nợ. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2, Điều 90 về “Phạm vi hoạt động được phép của tổ chức tín dụng”, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, thì “Tổ chức tín dụng không được tiến hành bất kỳ hoạt động kinh doanh nào ngoài các hoạt động ngân hàng, hoạt động kinh doanh khác ghi trong Giấy phép được Ngân hàng Nhà nước cấp cho tổ chức tín dụng.” Nếu ngân hàng thu giữ được tài sản thế chấp là một con tàu, toà nhà hay khách sạn, mà khai thác con tàu ấy thì không có chức năng kinh doanh vận tải, cho thuê khách sạn thì không có chức năng kinh doanh lưu trú du lịch, cho thuê toà nhà thì không có chức năng kinh doanh bất động sản. Về nguyên tắc, ngân hàng cũng không bao giờ được cấp phép hoạt động vận tải hay cho thuê phòng nghỉ, tài sản. Các hoạt động này cũng không nằm trong 3 trường hợp ngoại lệ được phép kinh doanh bất động sản theo quy định tại Điều 132 về “Kinh doanh bất động sản”, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Kể cả việc ngân hàng khai thác thông qua hợp đồng uỷ thác hay hợp tác kinh doanh, thì cũng vẫn có thể bị quy kết là trái pháp luật, vì vẫn là không có chức năng.

3.5. Phát mại tài sản bảo đảm:

Pháp luật giao dịch bảo đảm cho phép ngân hàng được quyền tự bán, uỷ quyền cho người khác bán hoặc thông qua tổ chức bán đấu giá để bán tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Tuy nhiên, đối với tài sản thế chấp là nhà đất, thì phải có sự “đồng lòng” của mấy đối tượng: Chủ tài sản, các cơ quan đấu giá, công chứng và quản lý nhà đất. Chỉ cần một “mắt xích” lắc đầu, thì cũng ách tắc. Nếu chủ tài sản không ký và cũng không uỷ quyền cho người khác ký hợp đồng bán đấu giá, thì pháp luật cũng đã chỉ rõ là vẫn có thể phát mại dựa vào thoả thuận trong hợp đồng thế chấp. Tuy nhiên, chỉ qua một ví dụ dưới đây, đã cho thấy, quyền phát mại nhà đất của ngân hàng là hết sức gian nan.

Đó là một vụ việc phải xử lý tài sản thế chấp là nhà đất để thu hồi trên 5,5 tỷ đồng nợ xấu, ở huyện Thanh Trì, Hà Nội mà trước đó khách hàng đã vay vốn kinh doanh và trong 2 năm 2009 – 2010, đã thế chấp nhà đất 4 lần, tại 3 ngân hàng. Tháng 11-2010, ngân hàng và chủ sở hữu đã ký hợp đồng thế chấp nhà ở để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho chính chủ sở hữu (đã được công chứng và đăng ký thế chấp hợp pháp). Ngoài ra, hai bên còn ký thêm hợp đồng uỷ quyền (tại Văn phòng Công chứng) cho Ngân hàng bán tài sản thế chấp. Tháng 12-2013, ngân hàng đã thông báo thu giữ và yêu cầu bàn giao tài sản thế chấp để phát mại. Tháng 3-2014, ngân hàng đã ra Quyết định thu giữ tài sản thế chấp. Tháng 7-2014, ngân hàng đã thu giữ, niêm phong tài sản thế chấp, có sự chứng kiến của một Phó Chủ tịch UBND xã. Tháng 12-2014, tài sản thế chấp đã được bán đấu giá xong. Sau đó nhà đất đã được sang tên sổ đỏ cho người mua đấu giá. Nhưng chủ nhà cũ quay lại chiếm giữ nhà và không bàn giao cho chủ sở hữu mới. Cho đến hết tháng 9-2015 tình hình vẫn án binh bất động.

Để xử lý vụ việc trên, bài toán đặt ra là, ngân hàng phải tổ chức một lực lượng hùng hậu để giành lại tài sản thế chấp hợp pháp thuộc quyền quản lý và xử lý của mình đã được phát mại và sang tên hợp pháp (nhưng chưa bàn giao cho người mua). Hoặc là chủ sở hữu đã mua nhà qua đấu giá phải đứng ra “dàn trận” để “chiếm” lại tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình hoặc phải kiện ra Toà, rồi theo đuổi vụ kiện một vài năm để có được một bản án và cuối cùng là yêu cầu cơ quan thi hành án cưỡng chế để trả lại tài sản của mình cho chính mình. Như vậy, chặng đường xử lý tài sản thế chấp thông qua đấu giá để thu hồi nợ xấu đã gần 2 năm, nay đang có nguy cơ phải cộng thêm một vài năm nữa.

3.6. Bán nợ:

Pháp luật dân sự cũng như pháp luật ngân hàng đều cho phép ngân hàng được quyền bán nợ để thu hồi nợ. Tuy nhiên, nếu bán tài sản khó một, thì bán nợ khó mười, mà lý do quan trọng nhất là không có thị trường mua bán nợ.

Quy định không rõ ràng, lại không được tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn, nên hầu hết mọi người, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước đều nhầm lẫn, cho rằng chỉ doanh nghiệp có chức năng mua bán nợ mới được phép mua bán nợ. Gần như toàn bộ các phòng đăng ký kinh doanh trên cả nước không cho đăng ký kinh doanh hoạt động mua bán nợ. Thậm chí có tỉnh sát Hà Nội, đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh xong còn gửi Công văn yêu cầu doanh nghiệp rút lại hoạt động này. Vì vậy, trên Cổng thông tin đăng ký quốc gia vào ngày 28-9-2015, chỉ thấy xuất hiện 10 Công ty mua bán nợ tại 3 tỉnh trên cả nước (ngoài các Công ty của Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và các ngân hàng thương mại); trong đó riêng Long An có 6 công ty và không có công ty nào ở 2 địa bàn Sài Gòn và Hà Nội, là nơi chiếm khoảng một nửa tổng dư nợ tín dụng cả nước.

Trong khi không có bất kỳ quy định pháp luật nào ngăn cấm, hạn chế hay đặt ra điều kiện kinh doanh đối với hoạt động mua bán nợ, mà rõ nhất là Luật Đầu tư năm 2014. Chỉ có các quy định của ngành Ngân hàng quy định về các điều kiện, thủ tục, yêu cầu đối với các công ty mua bán nợ trực thuộc các ngân hàng. Ngay chính trong các văn bản quy định về hoạt động mua bán nợ của các ngân hàng thương mại như Quyết định số 140/1999/QĐ-NHNN14 ngày 19-4-1999, Quyết định số 59/2006/QĐ-NHNN ngày 21-12-2006, Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17-7-2015 cũng đã quy định rõ bên mua nợ của các ngân hàng là tất cả các cá nhân, pháp nhân, chứ không chỉ là công ty có chức năng mua bán nợ.

3.7. Khởi kiện ra Toà án, Trọng tài:

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cũng như các văn bản quy phạm pháp luật khác, nếu không đồng ý với con nợ, chủ tài sản hoặc đã khấu trừ tài khoản; khai thác, sử dụng, phát mại tài sản bảo đảm; bán nợ và đã thực hiện các biện pháp khác mà vẫn không giải quyết xong nợ xấu (không giảm trừ, bù trừ hoặc thu hồi hết nợ), thì ngân hàng có quyền khởi kiện ra Toà án hoặc Trọng tài để yêu cầu các cơ quan này giải quyết tranh chấp dân sự hoặc phá sản doanh nghiệp, nhằm thu hồi nợ thông qua việc thi hành các bản án, quyết định hay phán quyết của Toà án hoặc Trọng tài. Nói cách khác, nếu không “tự xử” được việc trả nợ và xử lý tài sản bảo đảm, thì ngân hàng phải “mượn tay” cơ quan pháp luật ra một phán quyết công nhận nợ nần và thừa nhận quyền xử lý tài sản bảo đảm.

Ngoài số ít vụ việc thực sự có tranh chấp hoặc có tính chất phức tạp, đa số vụ việc vay nợ ngân hàng đều khá rõ ràng, đơn giản, chặt chẽ, đầy đủ chứng cứ. Tuy nhiên, dù không có tranh chấp gì về hợp đồng tín dụng, nhưng vẫn phải gọi đó là yêu cầu giải quyết tranh chấp và rơi vào vòng quay tố tụng rất phức tạp, dài dòng, chậm trễ, tốn kém, vì Toà án không có thủ tục rút gọn cho vụ kiện kinh doanh, thương mại nói chung, vụ việc ngân hàng nói riêng. Cùng với thủ tục tố tụng Toà án, là công đoạn thi hành án, tiếp tục là nỗi ám ảnh sợ hãi đối với việc xử lý nợ xấu. Đó chính là những tác nhân “giúp sức” cho nợ xấu cứ tích tụ cao thêm và chậm được hạ xuống.

Hệ thống quy định, giấy tờ, thủ tục pháp luật muôn vàn sự vô lý, bất cập, yếu kém, không chỉ gây bao tai hoạ cho ngân hàng, mà các cơ quan Toà án, Trọng tài, Thi hành án, Công chứng, Đấu giá,… cũng đều lo ngại, khốn khổ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Sổ đỏ) là loại giấy tờ sở hữu tài sản bài bản và quan trọng nhất, nhưng vẫn còn quá nhiều sai sót, phi lý và đặc biệt là không ghi nhận cụ thể các thành viên của hộ gia đình. Quá nhiều sổ đỏ ghi nhận thông tin sai lệch hay chỉ ghi nhận một phần tài sản thực tế (như chỉ ghi đất, không ghi nhận hoặc không ghi đủ nhà ở, tài sản trên đất, đặc biệt là nhà ở tại nông thôn). Thế là dẫn đến một chuỗi buộc phải sai lệch tiếp theo trong biên bản định giá, công chứng hợp đồng, đăng ký thế chấp,… Cuối cùng là muôn vàn rào cản, khó khăn, trở ngại, bế tắc khi phải xử lý tài sản thế chấp.

3.8. Khiếu nại, tố cáo vi phạm:

Trong toàn bộ “hành trình đau khổ” xử lý nợ xấu nói trên, bất cứ giai đoạn nào, ngân hàng cũng có thể khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật và tố giác tội phạm hình sự để yêu cầu các cơ quan chức năng xử lý con nợ và các cá nhân, pháp nhân liên quan, đồng thời hỗ trợ thu hồi nợ cho chủ nợ.

Mặc dù về nguyên tắc, khiếu nại, tố cáo hành chính không phải là một kênh chính thức trong “cuộc chiến” thu hồi nợ xấu, nhưng trên thực tế, qua việc khiếu nại, tố cáo những hành vi sai trái của con nợ và người khác gây trở ngại, thiệt hại đến quyền lợi của ngân hàng cũng có tác dụng rất đáng kể trong việc xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, với nhiều lý do khác nhau, càng lúc càng không được các cơ quan chức năng quan tâm, xem xét.

Ở mức độ cao hơn, ngân hàng cũng có quyền tố giác tội phạm để thu hồi nợ xấu thông qua việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, như con nợ lừa đảo hay lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, thẩm phán ra bản án sai pháp luật hay người có nghĩa vụ không chấp hành bản án,… Tuy nhiên, ngân hàng ngày càng run sợ trước tình trạng, nạn nhân của nợ xấu lại biến thành tội phạm, tức là bị “hình sự hoá” quan hệ tín dụng, ngân hàng. Ngược lại, do sợ trách nhiệm, sợ nguy cơ “hình sự hoá” quan hệ kinh tế, dân sự đối với con nợ, nên các cơ quan pháp luật cũng không dám mạnh tay khởi tố, truy tố, kết tội những kẻ lừa đảo, lạm dụng chiếm đoạt tiền của ngân hàng.

  1. Kết luận và kiến nghị:

4.1. Trách nhiệm xử lý nợ xấu:

Con nợ, mà chủ yếu là các doanh nghiệp, phải chịu trách nhiệm chính về việc không trả được nợ vay, tức về tình trạng nợ xấu của ngân hàng. Vì xã hội và các cơ quan chức năng cứ nghiêng nhầm theo hướng rằng, nợ xấu là của ngân hàng, nên đẩy hết cho ngân hàng phải tự chịu, tự lo và tự “xử”, nên dẫn đến việc xử lý nợ xấu một cách thực chất bị rơi vào tình trạng rất khó, rất chậm và rất xấu.

Xử lý nợ xấu không chỉ là việc giúp cho hệ thống ngân hàng, mà là cứu giúp cả nền kinh tế, vì thực chất của việc xử lý nợ xấu, là “cấp cứu, điều trị và dưỡng bệnh” cho doanh nghiệp, cũng như cho cả nền kinh tế.

4.2. Bảo vệ quyền của chủ nợ:

Cả hai bên trong quan hệ nợ xấu tín dụng là ngân hàng và khách hàng, đều cần được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, quyền sở hữu tài sản là tiền cho vay cần phải được bảo vệ hơn quyền sở hữu là tài sản bảo đảm tiền vay. Không phải vô cớ mà Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011), đã quy định: Thời hiệu để khởi kiện đòi tiền bồi thường trong các vụ việc tranh chấp hợp đồng chỉ có 2 năm, nhưng thời hiệu khởi kiện để chủ nợ đòi lại tiền cho vay được kéo dài vĩnh viễn.

Theo đuổi nền kinh tế thị trường, bên cạnh “cuộc chiến” chống “giặc tín dụng đen” bất hợp pháp bóc lột người đi vay, việc căn bản hơn là phải bảo vệ được quyền sở hữu tiền bạc của người cho vay hợp pháp. Khi khoản vay còn là nợ tốt, thì khách hàng là “Thượng đế”, nhưng khi đã biến thành nợ xấu, thì “Thượng đế” đã trở thành “tội đồ”, vì không còn mang lại lợi nhuận, lợi ích mà mang lại rủi ro, nguy hiểm cho ngân hàng cũng như cho nền kinh tế. Khi đó, con nợ không thể cùng vị thế với chủ nợ. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành không những chưa khẳng định rõ vị thế của chủ nợ, không ưu tiên bảo vệ quyền của chủ nợ, bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp bị xâm phạm, mà lại coi chủ nợ cũng như con nợ, thậm chí còn nghiêng về phía bảo vệ con nợ.[1]

4.3. Sửa đổi hệ thống pháp luật:

Với hệ thống pháp luật không đủ mạnh mẽ và rõ ràng để thúc đẩy việc xử lý nợ xấu như đã nêu ở các phần trên, cùng với nhiều vấn đề bất cập khác,[2] thì chẳng khác nào dung túng, khuyến khích vi phạm, bội ước, chây ỳ, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ; tiếp tay cho việc lấy tài sản của người này chia cho người khác; hậu quả là nợ xấu sẽ dễ bị gia tăng và ngày càng khó xử lý.

Nếu ví hệ thống pháp luật đang vận hành như một cỗ máy, thì hoạt động xử lý nợ xấu đang giống với việc phải bôi trơn, hàn gắn, chắp nối, vá víu và vận hành một cỗ máy rệu rã, hư hỏng. Vì vậy, việc cấp bách cũng như lâu dài là phải rà soát, bãi bỏ các quy định, thủ tục cản trở; sửa sai các quy định, thủ tục vô lý; bổ sung các quy định, thủ tục cần thiết trong các đạo luật và văn bản dưới luật, để bảo đảm công cuộc xử lý nợ xấu nhanh chóng, hiệu quả và triệt để.

 

—————————–

Trương Thanh Đức

ĐC: Công ty Luật ANVI, tầng 4, Tòa nhà Savina, số 1 Đinh Lễ, phố Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, HN

FB: Trương Thanh Đức (www.facebook.com/LSTruongThanhDuc)

E-mail: duc.tt @anvilaw.com

Web: www.anvilaw.com

ĐT: 090.345.9070

[1]   Điều này được thể hiện ngay từ cách gọi người có quyền đòi nợ là chủ nợ, nhưng lại không gọi người có nghĩa vụ trả nợ là con nợ, mà chỉ gọi là người nợ, người mắc nợ và thậm chí “tôn” lên thành “khách nợ”, tức vẫn giữ “ngôi Thượng đế” (có 14 Nghị định và khoảng trên 50 thông tư, quyết định sử dụng từ “khách nợ”).

[2]   Xem thêm tham luận “Cản trở pháp lý đối với việc xử lý nợ xấu” trên www.anvi.com.vn.

Bài viết 

308. Mất tiền từ séc giả, trách nhiệm thuộc...

(VNB) - Khi sự việc xảy ra, cần xác định ai là người có lỗi, lý do, nguyên...

Trích dẫn 

3.731. Có nên đánh thuế nước sạch?

(TN) - Là mặt hàng "thiết yếu nhất trong các loại thiết yếu", nhưng nước...

Bình luận 

ANVI - Luận cứ bào chữa cho 3 bị cáo vụ Tân...

Chuẩn bị 3 phương án hoàn toàn khác nhau: Phương án 1 là 1 mất 1...

Phỏng vấn 

4.281. Ông Trần Quí Thanh nhận thức hành vi của...

(QHTV) - Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI, Trọng tài...

Tám luật 

334. ANVI xì luật hay Lạm bàn tám luật.

(ANVI) - “Lạm bàn tám luật” hay còn gọi là “ANVI xì luật”, gồm 334...

Số lượt truy cập: 207,298