302. Khơi thông pháp lý, tạo sức bật cho đất đai (Tiếp theo và hết)

Khơi thông pháp lý, tạo sức bật cho đất đai (Tiếp theo và hết)

(QĐND) – Để đất đai thực sự trở thành nguồn lực phát triển, trước hết cần bám sát quy định của Hiến pháp, tiếp đến cần quy định đầy đủ, cụ thể về quyền của pháp nhân, cá nhân và nhóm cá nhân đối với đất đai. Đồng thời, sửa đổi một số quy định bất cập, khó hiểu để bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất.
Làm rõ quyền của công dân với đất đai

Khoản 8 Điều 24 về “Quyền của công dân đối với đất đai”, Dự luật quy định các nhóm quyền quan trọng của công dân đối với đất đai như sau: Nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất (quyền sử dụng đất); mua, bán, nhận chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp là giá trị quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Về pháp lý, Dự luật viết như vậy dẫn đến không phân biệt được người sử dụng đất nói chung, công dân nói riêng có những quyền gì. Chỉ riêng 2 điều khoản trên cộng lại (theo cách phân chia chi tiết quyền) đã thấy cá nhân có ít nhất 14 quyền (cho thuê-thuê, cho thuê lại; chuyển đổi, chuyển nhượng-nhận chuyển nhượng; góp vốn-nhận góp vốn; tặng cho-nhận tặng cho; thế chấp-nhận thế chấp; thừa kế-nhận thừa kế (không có quyền mua, bán, nhận chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp là giá trị quyền sử dụng đất)…

Ví dụ ở trên có 2 quyền là “chuyển nhượng” và “nhận chuyển nhượng”, nhưng lại chỉ có quyền “thế chấp” mà không có quyền “nhận thế chấp”. Thứ hai, trong 6 quyền đều mang tính chất tiếp nhận kể trên, thì lại chèn ngược một từ không cùng trường nghĩa mang tính chuyển giao đó là “bán” cổ phần… Thứ ba, việc bổ sung quyền mới “mua, bán, nhận chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp là giá trị quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật” là không hợp lý, vì về nguyên tắc, việc quyền sử dụng đất hay giá trị quyền sử dụng đất đã góp vốn và được ghi nhận thành “cổ phần” hay “phần vốn góp” thì giống như mọi loại cổ phần khác và không còn liên quan gì đến tài sản góp vốn.

Đất hay quyền sử dụng đất hay giá trị quyền sử dụng đất, khi đó là tài sản nhận chuyển nhượng, được giao hoặc được thuê của công ty, chứ cổ đông công ty (cổ phần) hoặc thành viên công ty (trách nhiệm hữu hạn) không có quyền hoặc nghĩa vụ liên quan gì đến đất hay quyền sử dụng đất hay giá trị quyền sử dụng đất.

Do đó, điều khoản này cần quy định đầy đủ quyền của người sử dụng đất, trong đó tách thành các quyền và nhóm quyền khác nhau, sau đó các điều khoản khác viện dẫn đến từng quyền hoặc từng nhóm quyền hoặc toàn bộ quyền. Thứ hai, cần viết các điều khoản quy định về quyền của công dân hay người sử dụng đất thì phải để cho người đọc thấy ngay rằng đó là toàn bộ quyền hay một phần quyền, nếu chỉ là một phần quyền thì còn có quy định ở điều nào khác. Thứ ba, cần phải bỏ quy định về việc “mua, bán, nhận chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp là giá trị quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật”.

tạo sức bật cho đất đai
Làm rõ các quyền, quy định bảo đảm đồng bộ, thống nhất với các văn bản pháp luật sẽ tạo điều kiện thuận lợi để đất đai phát huy tốt nguồn lực. Trong ảnh: Một góc khu vực phía Tây Thủ đô Hà Nội. Ảnh: LINH AN

Ngoài ra, Dự luật cũng như tất cả các Luật Đất đai trước đây đều không quy định về việc mượn và cho mượn đất (hay quyền sử dụng đất) mà chỉ quy định chế tài thu hồi đất nếu “cho mượn trái pháp luật”. Cần phải công nhận và quy định về quyền mượn và cho mượn đất, vì đây là một quyền rất cần thiết, hợp lý, chính đáng, khả thi và thực tế.

Đặc biệt, trên cơ sở tôn trọng và bám sát tinh thần của Điều 53, Hiến pháp năm 2013 quy định đất đai “thuộc sở hữu toàn dân”, tôi xin được mạnh dạn đề nghị một cách hiểu, cách tiếp cận hoàn toàn mới. Theo đó Luật Đất đai hoàn toàn có thể cụ thể hóa Hiến pháp, quy định một cách hợp Hiến và hợp lý việc cá nhân nói chung, công dân nói riêng có mọi quyền, trong đó có thể có quyền sở hữu đối với đất đai trong một số trường hợp, trong đó có đất ở được quyền sử dụng lâu dài, không có thời hạn (vĩnh viễn).

Triết lý thật đơn giản, đất đai thuộc sở hữu toàn dân thì người dân có quyền sở hữu nó, mà trọn vẹn là sở hữu đất, còn không đầy đủ là sở hữu đối với quyền sử dụng đất. Tất nhiên sẽ có nhiều loại đất không bao giờ thuộc sở hữu tư nhân như đất thuộc sở hữu của các pháp nhân công, các loại đất thuê, đất được giao không thu tiền, đất mượn.

Làm rõ một số quy định và bảo đảm sự thống nhất pháp luật

Nếu Dự luật vẫn chỉ quy định người dân có quyền sử dụng đất thì phải xác định rõ ràng rằng, đó cũng chính là quyền tài sản, đồng thời là một loại tài sản đặc biệt, do vậy, người dân cũng có quyền sở hữu đối với tài sản là quyền sử dụng đất (với đầy đủ 3 quyền, bao gồm quyền chiếm hữu quyền sử dụng đất, quyền sử dụng quyền sử dụng đất và quyền định đoạt quyền sử dụng đất) theo quy định tại các Điều 105 về “Tài sản”, Điều 115 về “Quyền tài sản” và Điều 158 về “Quyền sở hữu”, Bộ luật Dân sự năm 2015. Đây cũng là một cách lựa chọn, tuy nhiên sẽ rất thiếu logic và rắc rối, phức tạp.

Nếu Dự luật không thừa nhận quyền sở hữu loại tài sản, hàng hóa đặc biệt là quyền sử dụng đất mua đấu giá, đất nhận chuyển nhượng, đất được giao đã trả đủ tiền sử dụng đất và đất được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất tương tự như đất mua (chủ yếu là đất ở của người dân) thì sẽ rất mâu thuẫn và trái ngược với Bộ luật Dân sự và buộc phải có một điều luật bãi bỏ quy định về việc khẳng định quyền sử dụng đất cũng chính là một loại tài sản tại Điều 105 và Điều 115 của Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng như Điều 13 của Dự luật.

Nếu Dự luật quy định quyền sử dụng đất không phải là (thậm chí không liên quan đến) khái niệm quyền sử dụng trong Bộ luật Dân sự năm 2015 như một số ý kiến khẳng định như vậy thì cũng cần phải sửa đổi Bộ luật Dân sự, vì các giao dịch dân sự nói chung, hợp đồng về đất đai nói riêng trong bộ luật này không thể mâu thuẫn, trái ngược với chính quy định của nó.

Cụ thể, phải bãi bỏ hoặc thay thế các cụm từ “quyền sử dụng” tại một loạt điều của Bộ luật Dân sự năm 2015 như: Điều 115 về “Quyền tài sản”, Điều 500 về “Hợp đồng về quyền sử dụng đất”, Điều 501 về “Nội dung của hợp đồng về quyền sử dụng đất”,  Điều 502 về “Hình thức, thủ tục thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất”, Điều 503 về “Hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất”… Hoặc là phải bổ sung quy định để loại “quyền sử dụng” ra khỏi quyền sử dụng tài sản nói chung, tức chấp nhận có hai loại “quyền sử dụng” hoàn toàn khác nhau.

Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI

————-

Quân đội Nhân dân (Pháp luật) 30-3-2023:

https://www.qdnd.vn/phap-luat/cac-van-de/bai-3-khoi-thong-phap-ly-tao-suc-bat-cho-dat-dai-tiep-theo-va-het-723334

(1.415) #datdai #QĐND #ANVI

Bài cuối trong loạt 3 bài: Khơi thông nguồn lực đất đai – nhìn từ góc độ pháp lý

Bài viết 

318. Quản lý thị trường vàng: 'Chữ Tín' của...

Quản lý thị trường vàng: 'Chữ Tín' của thể chế phải quý hơn vàng. (NĐT) -...

Trích dẫn 

4.303. Hiện thực hóa tăng trưởng cao, năng lượng...

Hiện thực hóa tăng trưởng cao, năng lượng phải đi trước một bước. (TT)...

Bình luận 

460. Bình luận về cơ sở pháp lý xử phạt sản xuất...

Bình luận về cơ sở pháp lý xử phạt sản xuất nội dung trên mạng...

Phỏng vấn 

4733. “Phí 6.600 đồng/tháng trên VETC, ePass là khoản...

“Phí 6.600 đồng/tháng trên VETC, ePass là khoản phí chồng lên phí”. (DT) – Bình luận về vấn đề này, Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), cho rằng nếu việc thu phí hoàn toàn do Nhà nước ấn định hoặc đã có sự thỏa thuận với khách hàng thì không có gì bàn cãi. Tuy nhiên, theo luật sư, trường hợp này có nhiều điểm cần được làm rõ bởi người dân gần như buộc phải tham gia hệ thống thanh toán phục vụ thu phí không dừng. "Việc thu phí này gắn liền với việc thu phí giao thông, tuy không phải là "bắt" nhưng lại "buộc" gần như tất cả phải tham gia mà không còn sự lựa chọn nào khác, nhất là cách duy nhất để đi qua rất nhiều trạm thu phí hiện nay là phải thông qua tài khoản giao thông", luật sư nêu quan điểm. Theo ông, việc bất ngờ thông báo thu phí duy trì tài khoản hàng tháng khiến dư luận có quyền đặt câu hỏi là dựa trên cơ sở pháp lý nào? Chỉ thấy bất thình lình thông báo thu phí định kỳ hàng tháng, không theo quyết định của cơ quan nhà nước, cũng chẳng theo thỏa thuận thì đó là sự áp đặt, đánh úp khách hàng. Do đó, Luật sư Trương Thanh Đức cho rằng Chính phủ và bộ quản lý cần vào cuộc xem xét việc thu phí này có được phép thực hiện hay không và mức thu có hợp lý không? "Đây không phải là một dịch vụ thông thường, mà là gắn liền với khoản phí giao thông phải nộp theo quy định cụ thể của pháp luật, người nộp không có nhiều lựa chọn thay thế và hai doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có "vị trí thống lĩnh thị trường" cũng không cứ muốn là được", luật sư nói.   Nghịch lý “xe không chạy vẫn trả phí” Luật sư Trương Thanh Đức, cho rằng các đơn vị vận hành hệ thống thu phí không dừng hiện đã có nhiều nguồn thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ và đang có nhiều lợi thế, nhất là quy mô nền kinh tế, số lượng ô tô, số lượt nộp phí và số km lăn bánh liên tục gia tăng. Với công nghệ và thực tế như hiện nay, có thể so sánh với hàng tỷ giao dịch chuyển tiền hầu hết được miễn phí mà ngân hàng vẫn có lợi. "Sử dụng đường đã nộp đủ tiền dịch vụ, giờ lại thu thêm tiền duy trì tài khoản nhiều như vậy, nhân với vài triệu tài khoản thì tự dưng kiếm được số tiền khổng lồ. Đặc biệt, xe ít chạy, thậm chí cả năm không chạy, thì không phải nộp đồng phí giao thông nào, nhưng vẫn phải nộp phí duy trì tài khoản, kể cả trong tài khoản không có hay có nhiều tiền", luật sư nêu quan điểm. Theo luật sư Đức, kể cả đã có quy định pháp luật cho thu thì cũng phải xem xét điều chỉnh, còn nếu chưa có phải lập tức ban hành quy định cho làm hay yêu cầu cấm thu, chứ không thể bất thình lình đưa ra thông báo thu phí như vậy. "Nếu hôm nay được quyền làm vậy, thì liệu năm sau có được quyền tăng phí lên gấp đôi, gấp ba không?", luật sư đặt vấn đề. Nhân viên hỗ trợ tài xế dán thẻ ETC (Ảnh: Hoàng Giám). Minh họa sự khác biệt, luật sư Đức đưa ra ví dụ, nếu hàng phở ở trạm dừng nghỉ trên tuyến đường thu phí tăng giá lên gấp đôi, thì khách hàng có quyền lựa chọn ăn mỳ hay nhịn, nhưng khoản phí này dù tăng bao nhiêu, thì xe qua trạm thu phí cũng buộc phải cắn răng chịu đựng. "Nếu hàng phở giở trò thu thêm phí chuyển khoản thì thực khách có thể trả tiền mặt, còn phương tiện qua trạm thu phí không dừng, thì chỉ có cách duy nhất thanh toán qua tài khoản giao thông", luật sư Đức so sánh. Theo luật sư, tài khoản giao thông liên quan đến tài khoản ví điện tử hay ngân hàng gì đó trong trường hợp này là phương tiện, là cách thức tổ chức để phục vụ cho việc thu phí giao thông bắt buộc, chứ không phải dịch vụ giá trị gia tăng, chẳng phải để khách hàng tự do tiêu sài vào việc khác mà phải nộp phí duy trì tài khoản. Vì vậy, hoặc là Nhà nước chịu trách nhiệm, hoặc là các bên liên quan đến việc bán dịch vụ sử dụng cầu đường, hoặc nhà nước quy định cộng thêm vào phí giao thông (tăng phí để phân bổ) thì mới đúng đắn, đơn giản, hợp lý, công bằng, sòng phẳng, rõ ràng. Đặc biệt trong bối cảnh chi phí vận tải của chúng ta rất cao, người dân và doanh nghiệp ít có lựa chọn đường miễn phí, đã phải nộp phí giao thông rất nhiều thì càng cần phải cân nhắc điều tiết. "Người ta buộc phải trả phí cho tuyến đường bộ vận tải nhộn nhịp nhất là Hà Nội - Hải Phòng, vì không có đường song hành miễn phí, nay lại phải chi thêm từ 79.200 đến 792.000 đồng mỗi năm? Nếu chấp nhận cho thu thêm khoản phí này, thì cũng cần xem xét xử lý trọn gói, là một cấu phần trong khoản phí giao thông phải nộp cho nhà đầu tư, do Nhà nước không đủ nguồn lực đảm bảo hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng, văn hóa xã hội và đi lại của nhân dân", luật sư nói.

Tám luật 

334. ANVI xì luật hay Lạm bàn tám luật.

(ANVI) - “Lạm bàn tám luật” hay còn gọi là “ANVI xì luật” Chuyên...

Số lượt truy cập: 323,663