Hoàn thiện khung pháp lý nhằm kiểm soát rủi ro trên thị trường tài sản mã hóa.
(TT TCTT) – Theo Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI, trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa phát triển nhanh cả về quy mô lẫn mức độ tham gia của nhà đầu tư, việc triển khai cơ chế thí điểm (sandbox) đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung pháp lý. Chỉ khi xây dựng được hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng và có kiểm soát, Việt Nam mới có thể vừa tận dụng được cơ hội từ tài sản mã hóa, vừa hạn chế rủi ro đối với nhà đầu tư và hệ thống ngân hàng.
Phóng viên: Mới đây, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính yêu cầu Bộ Tài chính triển khai cấp phép cho các doanh nghiệp tham gia thí điểm thị trường tài sản mã hóa (Sandbox) theo quy định. Dưới góc nhìn của người có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực pháp luật, theo ông, làm thế nào để cân bằng giữa yêu cầu hội nhập quốc tế và việc bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư trong nước khi triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa?
Luật sư Trương Thanh Đức: Việc triển khai cấp phép cho các doanh nghiệp tham gia thí điểm thị trường tài sản mã hóa xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, liên quan đến hội nhập, đổi mới và sự phát triển của công nghệ.
Trên thế giới, nhiều nước đã cho phép giao dịch tài sản mã hóa và thành lập nhiều sàn giao dịch. Vài năm gần đây, Việt Nam thường xuyên nằm trong nhóm các quốc gia có tỷ lệ dân số sở hữu tiền ảo cao nhất thế giới. Nhiều báo cáo xếp Việt Nam ở vị trí thứ 2 hoặc thứ 3 toàn cầu về tỷ lệ dân số sử dụng crypto, với ước tính có khoảng 20-26 triệu người sở hữu, phản ánh sự chấp nhận nhanh chóng công nghệ và tiềm năng thị trường lớn. Tại Việt Nam, theo Luật Công nghiệp Công nghệ số 2025 có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, tài sản mã hóa đã được công nhận là một loại tài sản số hợp pháp. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa cho phép sử dụng tiền số làm phương tiện thanh toán, do đó lĩnh vực này vẫn cần được nghiên cứu, quản lý và phát triển phù hợp với thực tiễn và yêu cầu hội nhập.

Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI
Phóng viên: Vậy, việc xây dựng thí điểm thị trường tài sản mã hóa có phải là bước đệm để hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường tài sản số trong tương lai?
Luật sư Trương Thanh Đức: Có thể khẳng định đây là một bước đệm quan trọng để hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường tài sản số trong tương lai. Trước khi Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP được ban hành, quan điểm của các cơ quan quản lý còn chưa thống nhất. Có cơ quan coi tài sản mã hóa là tài sản, có nơi xem là hàng hóa, trong khi một số cơ quan tư pháp lại cho rằng không phải là tài sản.
Về mặt pháp lý, Luật Công nghiệp công nghệ số số 71/2025/QH15 ngày 14/6/2025 đã đưa khái niệm tài sản số vào khuôn khổ định nghĩa và quản lý.
Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP là văn bản đầu tiên chính thức thừa nhận tài sản mã hóa là một loại tài sản trong khuôn khổ quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi ban đầu nhưng có ý nghĩa rất lớn trong việc từng bước hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường tài sản số tại Việt Nam.
Phóng viên: Theo Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP và các Luật đã ban hành, tài sản mã hóa có được coi phương tiện thanh toán không, thưa ông?
Luật sư Trương Thanh Đức: Việc xem xét pháp lý đối với tiền số, tiền mã hóa, tiền ảo chỉ giới hạn trong một số khía cạnh nhất định. Theo đó, tiền ảo cần được công nhận như một loại tài sản, cụ thể là tài sản mã hóa, tương tự như tài sản ảo, vật phẩm ảo trong trò chơi điện tử. Tuy nhiên, chỉ nên thừa nhận việc dùng tiền để mua và bán để lấy tiền, chứ không thể cho phép trở thành phương tiện thanh toán phổ biến chính thức, thay thế đồng tiền giấy và tiền số pháp định.
Nếu một quốc gia in tiền mà không có nền tảng kinh tế hỗ trợ, tiền in ra sẽ dẫn đến lạm phát và trở thành giấy lộn, thậm chí có mang cả túi tiền chưa chắc mua nổi ổ bánh mì. Tiền mã hóa, tiền ảo thậm chí còn là “siêu giấy lộn”, vì dù sở hữu hàng tỷ đồng tiền ảo, nếu không có ai giao dịch thì vô nghĩa, chẳng hạn, đồng Pi chỉ có giá trị khi hàng chục triệu người tham gia đào, giao dịch, tạo nên một thị trường sôi động nhưng trước khi được giao dịch, hoàn toàn vô nghĩa. Thị trường tài sản có thể là bong bóng nhưng dù sao vẫn hữu dụng, vẫn cần thiết trong sản xuất kinh doanh hay đời sống.
Có thể lấy dẫn chứng, tại một trung tâm thương mại, khách hàng có một ít voucher hay một số vật phẩm đổi tại các quầy đổi cơm, phở hay mặt hàng khác. Voucher này được coi là một phương tiện thanh toán nhưng chỉ trong phạm vi nhất định. Nhà nước không cấm những hình thức này, vì không gây ảnh hưởng gì đến an ninh tiền tệ hay nền kinh tế.
Do vậy, việc cởi mở, cho phép tiền số tự do tạo ra như trên trở thành phương tiện thanh toán, cũng tương tự thừa nhận các voucher kể trên cũng như là một phương tiện thanh toán, nhưng chỉ trong một phạm vi nhất định và chỉ thay thế đồng tiền pháp định trong công đoạn trung gian thanh toán nhất định, chứ không phải là thay thế chức năng thanh toán đầu cuối.
Phóng viên: Khi thị trường tài sản mã hóa hoạt động chính thức sẽ tác động thế nào đối với hệ thống ngân hàng và rủi ro cần kiểm soát là gì, thưa ông?
Luật sư Trương Thanh Đức: Hiện khung pháp lý cho thị trường tài sản mã hóa còn chưa hoàn thiện nên sẽ thêm nhiều rủi ro cho hệ thống ngân hàng, vì các giao dịch đều phải qua ngân hàng. Các ngân hàng phải nắm được công nghệ, kỹ thuật…, còn chưa nói đến việc tin tặc sẽ làm lộ bí mật thông tin, thất thoát.
Trong thời gian tới, Quốc hội, Chính phủ cần nhanh chóng hoàn thiện hành lang pháp lý để giảm thiểu rủi ro cho các bên liên quan, đặc biệt là nhà đầu tư và hệ thống ngân hàng. Những phần nào mà quản lý được thì cần đẩy mạnh, phần nào chứa đựng nhiều rủi ro, cần hạn chế, siết chặt.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!
Phạm Hiếu
—————
Thị trường Tài chính Tiền tệ (Diễn đàn Tài chính – Tiền tệ) ngày 17-01-2026:
(1.045/1.255)

