4.624. Quản lý thị trường vàng: ‘Chữ Tín’ của thể chế phải quý hơn vàng.

Quản lý thị trường vàng: ‘Chữ Tín’ của thể chế phải quý hơn vàng.

(NĐT) – Cần mạnh dạn “buông” việc phân biệt giữa vàng miếng với vàng khác, việc giữ thương hiệu vàng quốc gia, việc can thiệp và bình ổn giá vàng để quản lý thị trường vàng hiệu quả hơn.

Năm 2025, thị trường vàng thế giới ghi nhận một đợt tăng giá bùng nổ, với giá vàng tăng khoảng 63–65% trong cả năm 2025, chinh phục hàng loạt kỷ lục lịch sử và liên tục vượt ngưỡng 4.000 – 4.500 USD/ounce.

Giá vàng thế giới tăng nóng từng ngày trong tháng đầu năm 2026 và hiện đã gần chạm mốc 5.000 USD/ounce. Ở thị trường trong nước, giá vàng SJC cũng leo lên mức cao, với giá vàng miếng dao động ở mức trên 171 – 172 triệu đồng mỗi lượng ở chiều mua vào và bán ra ở mức 173 – 174 triệu đồng mỗi lượng, cao hơn đáng kể so với cuối năm 2025 và phản ánh nhu cầu trú ẩn tài sản vẫn rất mạnh.

Những con số này không chỉ minh chứng cho sức hút của vàng như một tài sản an toàn trong bối cảnh bất ổn vĩ mô mà còn làm nổi bật tâm lý “phòng thủ” và sự thiếu vắng niềm tin bền vững vào thị trường tiền tệ. Khi niềm tin chưa được củng cố, vàng tiếp tục là nơi nhà đầu tư tìm đến để bảo toàn tài sản.

Đối với nhiều người Việt thước đo của “An khang” và “Thịnh vượng” nhiều khi đơn giản được đo bằng số vàng trong tủ. Trong câu chuyện “vàng hóa” đang âm ỉ vài năm trở lại đây, nếu chúng ta không giải quyết được vấn đề “chữ Tín” của thể chế và sự sòng phẳng của thị trường, mọi biện pháp hành chính dù quyết liệt đến đâu cũng không mang lại hiệu quả mong muốn.

Ảnh minh họa (vàng miếng SJC)

Gốc rễ của tâm lý “phòng thủ”

Tại sao dân ta lại “say” vàng đến thế? Nhìn lại lịch sử hơn nửa thế kỷ qua, vàng không đơn thuần là một kim loại quý; nó là biểu tượng của sự an toàn tuyệt đối. Người dân tìm đến vàng vì ký ức của sự nghèo khó, về sự lạm phát, mất giá của đồng tiền và trước quá nhiều rủi ro trong cuộc sống cũng như sản xuất, kinh doanh.

Tâm lý sính vàng đó đã ăn sâu vào tiềm thức dân ta tự ngàn đời. Dường như có đủ thứ rồi mà thiếu ít vàng trong nhà thì vẫn không yên tâm. Nhưng chúng ta cần nhìn thẳng vào sự thật: Chừng nào giá trị của đồng tiền Việt Nam chưa ổn định một cách bền vững và thực chất, còn mất giá nhiều, thì người dân vẫn sẽ phản ứng tự vệ “phòng thủ”, tự bảo hiểm. Gốc rễ của thị trường vàng không nằm ở các cửa hàng hay hoạt động kinh doanh vàng, mà nằm ở sự ổn định giá trị của đồng VND, trong bối cảnh chịu ảnh hưởng rất lớn từ biến động giá vàng thế giới.

Khi đồng nội tệ ổn định giá trị, người dân có đủ niềm tin rằng tiền gửi ngân hàng không bị “bốc hơi” bởi lạm phát, thì vàng hay USD sẽ tự khắc mất dần sức hấp dẫn, dù gửi ngân hàng không sinh lời, thậm chí còn phát sinh chi phí. Thương trường vẫn luôn lưu truyền câu “chữ Tín quý hơn vàng”, nên tích được chữ Tín thì sẽ thay thế cho việc tích vàng.

Việc tạo ra loại vàng miếng SJC là một sự phi lý về pháp lý và kinh tế: Cùng hàm lượng, khối lượng và giá trị, nhưng chỉ đóng thêm nhãn hiệu của Nhà nước mà giá tăng vọt. Rồi thì lại sửa sai bằng cách khoét sâu thêm sự bất hợp lý: Cùng là miếng vàng như nhau, nhưng bán vàng miếng thì tính 0,1% thuế thu nhập, còn bán vàng khác thì không.

Để làm cho dân giảm bớt việc nghiện vàng, thị trường tiền lệ đỡ bị ảnh hưởng xấu và nguồn vốn được đưa vào nền kinh tế, thì cần phải bảo đảm được ít nhất 4 việc sau đây:

Thứ nhất, căn cốt là phải giữ được ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam;

Thứ hai, không đặt ra mục tiêu và không thực hiện việc ổn định giá vàng, vì không phải là mặt hàng thiết yếu phục vụ cuộc sống và sản xuất, kinh doanh. Cái giá phải trả cho sự ổn định giá vàng sẽ là sự bất ổn định của giá trị đồng tiền;

Thứ ba, xóa bỏ sự phân biệt giữa vàng miếng và loại vàng khác (không phải là trang sức, mỹ nghệ); bỏ thuế thu nhập đối với việc bán vàng miếng, vì vừa không công bằng, vừa không có có hiệu quả (mua bán tất cả các loại vàng từ 20 triệu đồng trở lên trong một ngày thì phải thông qua tài khoản ngân hàng, nhưng chi bán vàng miếng mới phải nộp thuế);

Thứ tư, đánh thuế giá trị gia tăng sòng phẳng đối với việc mua bán và xuất nhập khẩu vàng (không tính như lâu nay). Mua từ mớ rau muống, gói mỳ cho đến cân gạo, miếng thịt trong siêu thị đều phải nộp thuế VAT tính trên giá bán, thì chẳng lý gì không đánh thuế VAT và xuất nhập khẩu trên doanh thu mua bán vàng như với các hàng hóa thông thường khác. Khi ấy, không cấm, không khuyến khích, mà tự người dân tự cân nhắc việc mua bán, tích trữ vàng. Ai ham vàng, thích vàng thì vẫn mua và chấp nhận nộp thuế. Ai chán vàng, sợ vàng, không muốn nộp thuế thì bớt mua, bớt bán, bớt tích trữ, càng tốt.

Sự sòng phẳng ở chỗ, ai đặt chữ Tín vào vàng thì phải chấp nhận rủi ro biến động thất thường và nộp thuế giao dịch như đối với trăm ngàn những hàng hóa khác, mà tuyệt đối không có sự ưu tiên, ưu đãi, hỗ trợ nào.

“Buông” để quản lý hiệu quả hơn

Cần mạnh dạn “buông” việc phân biệt giữa vàng miếng với vàng khác (nhẫn, vòng, thỏi, cục,…); việc giữ thương hiệu vàng quốc gia; việc can thiệp và bình ổn giá vàng (để cho cung – cầu thị trường quyết định).

Vẫn phải quản lý chặt thị trường vàng, nhưng tập trung vào xuất nhập khẩu, kiểm soát chặt chẽ hàng lậu (nguồn cơn của chảy máu ngoại tệ và mất ổn định tỷ giá); minh bạch hóa nguồn gốc, xuất xứ, quy chuẩn, giao dịch (hóa đơn, chứng từ điện tử); nộp thuế đầy đủ và những gì gây rủi ro cho sự ổn định của giá trị đồng tiền Việt Nam (tiếp tục không huy động vàng, cấm dùng vàng làm phương tiện thanh toán).

Tóm lại, không khuyến khích giao dịch vàng dân sự và, kể cả tạo thêm các loại hình giao dịch phái sinh trên sàn, mà chỉ khuyến khích việc sử dụng vàng để phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống như trực tiếp góp vốn thành lập doanh nghiệp và đầu tư kinh doanh; tham gia thị trường tài chính, chứng khoán, mua cổ phiếu, trái phiếu (tức bán ra thị trường); đưa vào cầm cố, đặt cọc, ký cược, ký quỹ và bảo lĩnh [ĐT1] để bảo đảm cho các giao dịch kinh doanh, thương mại, dân sự, hành chính và hình sự.

Nếu không giải phóng được tâm lý thâm căn cố đế, coi vàng là bảo bối của cuộc sống, là hạt nhân của tài sản, thì vàng vẫn sẽ chỉ là “tiền chết”, là của cải đóng băng của nền kinh tế. Số vốn hiện hữu quý giá hàng trăm tấn vàng nằm trong két sắt của người dân cùng với hàng chục tỷ USD và còn tăng thêm nữa tiếp tục bị “chôn sống”, không tham gia vào vòng tuần hoàn sản xuất, không tạo ra công ăn việc làm hay giá trị thặng dư cho xã hội.

Để nguồn vốn trên “sống dậy”, thì cần nhiều giải pháp, trong đó có thứ thuốc đặc trị có yếu tố quyết định, đó là chữ tín vào thể chế, là niềm tin vào sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô và sự ổn định của giá trị đồng tiền Việt Nam.

Chữ Tín của thể chế là ở tính dự báo được của chính sách, là thoát khỏi sự can thiệp chủ quan duy ý chí, lời nói không trái ngược với việc làm, là được pháp luật và công lý bảo vệ trước rủi ro, tranh chấp. Nhà đầu tư sẽ không sợ rủi ro thị trường, mà sợ nhất là rủi ro thể chế, rủi ro chính sách. Để điều khiển được thị trường vàng phục vụ tốt nhất cho nền kinh tế thì phải gây dựng “Chữ Tín” của thể chế lớn hơn, quý hơn vàng.

Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI, Trọng tài viên VIAC

—————

Nhà đầu tư (Thị trường) ngày 26-01-2026:

https://nhadautu.vn/quan-ly-thi-truong-vang-chu-tin-cua-the-che-phai-quy-hon-vang-d102439.html

(1.565)

Bài viết 

317. Sửa Luật Đất đai: Tránh biến bảng giá...

Sửa Luật Đất đai: Tránh biến bảng giá đất 5 năm thành ‘hàng năm trá...

Trích dẫn 

4.238. Chưa đẩy lùi được nạn “bảo kê”, lợi...

Chưa đẩy lùi được nạn “bảo kê”, lợi ích nhóm, hàng giả còn...

Bình luận 

451. Bình luận về việc Hàng giả lan rộng trên...

Bình luận về việc Hàng giả lan rộng trên không gian số: Làm sao bảo...

Phỏng vấn 

4.623. Tin tưởng những chủ trương, quyết sách sớm...

Tin tưởng những chủ trương, quyết sách sớm tạo nhiều chuyển biến. (SGGP) –...

Tám luật 

334. ANVI xì luật hay Lạm bàn tám luật.

(ANVI) - “Lạm bàn tám luật” hay còn gọi là “ANVI xì luật” Chuyên...

Số lượt truy cập: 284,120