“Cần rút giấy phép hoạt động nếu ngân hàng sở hữu chéo”
(VT) – Các chuyên gia kinh tế cho rằng tình trạng sở hữu chéo trong ngân hàng vẫn hiện hữu. Muốn ngăn việc này diễn ra, nhà chức trách cần có biện pháp mạnh tay như cấm tham gia các hoạt động của ngân hàng, thậm chí là thu hồi giấy phép hoạt động.
Để ngăn tình trạng lũng đoạn ngân hàng, huy động vốn cho các doanh nghiệp thân hữu, Luật các tổ chức tín dụng 2024 (sửa đổi) quy định ngân hàng phải công khai cổ đông sở hữu trên 1% vốn điều lệ, đồng thời khống chế cá nhân không nắm giữ quá 5%, cá nhân và người liên quan không nắm giữ quá 10%, tổ chức không nắm giữ quá 15%.
Tuy nhiên, trong báo cáo gửi Quốc hội giữa năm 2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng thừa nhận việc kiểm soát sở hữu chéo rất khó khăn, nhất là khi cổ đông và người có liên quan cố tình che giấu, nhờ đứng tên số cổ phần sở hữu để lách quy định về sở hữu chéo, sở hữu vượt mức quy định hoặc giới hạn cấp tín dụng.
Điều này dẫn tới tiềm ẩn nguy cơ tổ chức tín dụng hoạt động thiếu công khai, minh bạch. Nỗi lo của Thống đốc Nguyễn Thị Hồng là có cơ sở khi giới chủ các tập đoàn kinh tế đã và đang gia tăng việc sở hữu ngân hàng để tiện huy động vốn cho các doanh nghiệp thân hữu. Càng lo hơn khi bài học về vụ án Trương Mỹ Lan và đồng bọn lũng đoạn ngân hàng SCB vẫn chưa nguội lạnh.
Tạp chí điện tử VietTimes đăng tải loạt bài: Nỗi lo ngân hàng huy động tiền “bơm” cho doanh nghiệp thân hữu.
Chia sẻ với VietTimes, chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu cho rằng tình trạng sở hữu chéo trong ngân hàng vẫn hiện hữu và tồn tại dưới nhiều hình thức tinh vi như để một bên không liên quan đứng tên.
Bên không liên quan này không phải họ hàng, không phải công ty con hay có liên hệ về mặt pháp lý nhưng lại hành động dưới sự chỉ đạo của “cổ đông” phía sau, người điều hành thực sự. Với cách thức như vậy, rất khó khăn xác định những bên liên quan thực tế.
Cũng theo ông Hiếu, Ngân hàng Nhà nước từng nhiều lần xử lý việc sở hữu chéo, thao túng ngân hàng nhưng nhìn chung “các thông tin này không được công bố chi tiết cho công chúng”. Ví dụ việc bên liên quan hành động như nào, ai đứng sau, ai chỉ đạo trong các hoạt động về tín dụng, sáp nhập… đều không được nêu rõ, điều này đẩy vấn đề sở hữu chéo vào chiếc “hộp đen”.
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu.
Ông Nguyễn Quang Huy – CEO Khoa Tài chính – Ngân hàng trường Đại học Nguyễn Trãi (NTU), cũng đánh giá việc kiểm soát sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng, nếu nhìn một cách thấu đáo, không chỉ là câu chuyện về giới hạn tỷ lệ nắm giữ cổ phần, mà là bài toán tinh vi hơn về nhận diện và điều tiết quyền lực tài chính trong một cấu trúc vận động phức hợp.
Khi các quan hệ sở hữu ngày càng đan xen qua nhiều lớp pháp nhân và cơ chế ủy quyền gián tiếp, ranh giới giữa “hình thức pháp lý” và “thực chất chi phối” trở nên khó phân định.
Còn góc độ pháp luật, Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI, Trọng tài viên VIAC, cho rằng quy định việc sở hữu chéo ngân hàng lâu nay đã rất chặt và đang tiếp tục thắt chặt hơn nhưng thực tế vẫn không kiểm soát được, nên luật không dám đặt ra thời hạn tuân thủ.
Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi (NTU).
Có thể rút giấy phép hoạt động nếu vi phạm
Để giải quyết tình trạng trên, Luật sư Trương Thanh Đức cho rằng cần thừa nhận tỷ lệ sở hữu thật để quản lý cho đúng thực chất, sao cho sòng phẳng, công khai. “Ví dụ cá nhân sở hữu 5% thì phải chấp hành tỷ lệ và giới hạn chặt chẽ là 5 phần, nếu tăng lên 10% thì gấp đôi lên là 10 phần. Cách tính là như vậy và bắt buộc phải công bố ra thị trường để mọi người biết được”, ông Đức nêu.
Tuy nhiên, theo ông Đức, muốn kiểm soát được thực sự thì phải tính đến nhiều chế tài, cách thức khác một cách đồng bộ. Chẳng hạn, Ngân hàng Nhà nước có thẩm quyền điều tra, xác minh và kết luận vi phạm đến đâu. Đặc biệt là áp dụng chế tài nào khi vi phạm điều cấm của luật, có đủ sức trừng phạt và răn đe hay không, chẳng hạn cần tính đến quy định tịch thu sổ cổ phiếu vượt quá trần cho phép sở hữu, thậm chí chịu trách nhiệm hình sự hay ít ra là cấm vĩnh viễn việc tham gia ngân hàng với mọi tư cách, hoặc ít ra cũng phải phạt hàng chục, thậm chí hàng trăm tỷ.

Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI, Trọng tài viên VIAC
Còn theo quan điểm của ông Nguyễn Trí Hiếu, để ngăn sở hữu chéo trong ngân hàng đi vào thực chất, việc thanh tra giám sát Ngân hàng Nhà nước cần phải được công bố. Nhà chức trách có thể không công bố tên ngân hàng (nhằm đảm bảo hoạt động liên tục) nhưng công bố trường hợp xảy ra để mọi người nắm được. Từ đó, các bên liên quan trong vụ việc có thể ý thức được hành động, chấm dứt những việc làm sai luật.
“Tôi nhiều lần đề nghị với Ngân hàng Nhà nước về việc xử lý các vi phạm, mức hình phạt lớn nhất là đóng cửa ngân hàng, thu hồi giấy phép hoạt động. Nếu làm được việc đó, chỉ 1 lần xử phạt thôi, 1 lần đóng cửa thôi sẽ có tác động mạnh đến toàn hệ thống. Song đến giờ này, việc thông tin về những vi phạm liên quan đến sở hữu chéo, thao túng ngân hàng qua sở hữu chéo và việc xử phạt vẫn không được công khai khiến vấn đề không được quan tâm và nhìn nhận đúng mực, và vì thế vẫn nằm ở đó, đặc biệt tình trạng sở hữu chéo vẫn tiếp tục tồn tại”, ông Hiếu nêu quan điểm.
Chuyên gia này cũng cho rằng để ngăn chặn tình trạng sở hữu ở các nhà băng diễn ra thì HĐQT cần phát huy vai trò và trách nhiệm, đặc biệt là thành viên HĐQT độc lập (người không giữ cổ phiếu, chức vụ tại ngân hàng họ đang phục vụ).
Tuy nhiên, theo ông Hiếu, vị trí và chức năng này ở các nhà băng tại Việt Nam không được phát huy và khá lu mờ nên nhiều vi phạm về sở hữu chéo chưa được các thành viên độc lập lên tiếng. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước cần có cơ chế đặc biệt, để bảo vệ họ, để họ có thể phát huy tối đa trách nhiệm trong việc giám sát, thực thi công việc.
Bên cạnh đó, ông Hiếu cũng nêu đề xuất là các cuộc họp HĐQT ở các ngân hàng cần có biên bản họp ghi nhận tất cả các ý kiến thuận và phản đối hay không có ý kiến, chứ không phải văn bản được soạn sẵn với mức biểu quyết thường là đồng thuận. “Nếu làm được việc này, các ý kiến trong cuộc họp sẽ được dân chủ hơn, mang tính xây dựng, góp ý nhiều hơn thay vì diễn ra theo sự chỉ đạo phía sau”, ông Hiếu nhấn mạnh.
Còn dưới góc nhìn của ông Nguyễn Quang Huy, hướng đi phù hợp không nằm ở việc gia tăng đơn thuần các ràng buộc, mà là kiến tạo một hệ sinh thái giám sát hài hòa, dựa trên dữ liệu, có khả năng nhận diện sớm, nhắc nhở kịp thời và hỗ trợ điều chỉnh, với mục tiêu xuyên suốt là bảo đảm hệ thống vận hành an toàn, ổn định và liên tục.
Ở cấp độ nội bộ, các tổ chức tín dụng đóng vai trò tuyến phòng thủ đầu tiên. Khi quản trị được nâng lên theo hướng thực chất, hội đồng quản trị độc lập và kiểm toán nội bộ không chỉ kiểm tra, mà còn có khả năng nhận diện sớm các dấu hiệu rủi ro, đặc biệt trong các quan hệ sở hữu và cấp tín dụng có liên quan.
Ở cấp độ quản lý nhà nước, phương thức giám sát cần chuyển dần sang dựa trên dữ liệu và phân tích xu hướng. Vai trò quan trọng không chỉ là phát hiện sai lệch, mà là đưa ra tín hiệu cảnh báo, khuyến nghị điều chỉnh và đồng hành cùng quá trình hoàn thiện của các tổ chức tín dụng. Cách tiếp cận này giúp giảm thiểu tính đối kháng, tăng tính hợp tác trong quản trị rủi ro.
Ở cấp độ thị trường, minh bạch thông tin là yếu tố nền tảng. Khi thông tin được công bố một cách phù hợp và có chọn lọc, các chủ thể thị trường – từ nhà đầu tư đến các tổ chức phân tích – có thể tham gia giám sát một cách tự nhiên, hình thành một lớp “kỷ luật mềm” nhưng có sức lan tỏa bền vững.
Ở cấp độ cổ đông, đặc biệt là cổ đông thiểu số, việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và cơ chế phản hồi hợp lý sẽ góp phần tạo nên động lực giám sát từ bên trong, giúp cân bằng lợi ích một cách hài hòa hơn.
“Mục tiêu cuối cùng không phải là xử lý những đổ vỡ khi đã xảy ra, mà là giữ cho hệ thống vận hành thông suốt, an toàn ngay từ bên trong, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho sự ổn định và phát triển bền vững của toàn bộ nền kinh tế”, ông Huy nhấn mạnh.
Hoàng Dung
—————
VietTimes (Kinh tế số) ngày 09-4-2026:
https://viettimes.vn/can-rut-giay-phep-hoat-dong-neu-ngan-hang-so-huu-cheo-post196478.html
(288/1.778)

