1.342. Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước: Dám đi đến tận cùng?

(ĐTCK) – Một quyết định dứt khoát về số phận của Dự án Gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2 chưa được công bố, song ở góc độ của những nhà đầu tư chuyên nghiệp, không cần mất quá nhiều thời gian phân tích mổ xẻ để có cùng quan điểm: rất khó đạt hiệu quả.

Trả giá

Ông Vũ Hoàng Long, Trưởng ban Đầu tư Kinh doanh, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) nói rằng, ngay khi được yêu cầu xem xét bỏ vốn vào Dự án Gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2, SCIC đã thấy rất khó để đảm bảo hiệu quả dự án và phải có chỉ định của Thủ tướng Chính phủ, Tổng công ty mới dám rót 1.000 tỷ đồng vào dự án này. Thận trọng hơn, khoản tiền này vẫn được để đảm bảo tại tài khoản của ngân hàng. Nếu Chính phủ chỉ đạo không rót vốn và thoái toàn bộ vốn nhà nước tại doanh nghiệp, khoản tiền trên vẫn được bảo toàn.

Giải thích kỹ hơn vì sao Dự án Gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2 kém hiệu quả, ông Trần Đình Long, Chủ tịch Hòa Phát, một trong những nhà đầu tư được gợi ý xem xét mua lại dự án này cho biết, vị trí nhà máy xa cảng biển, xa hệ thống đường giao thông lớn, lợi thế nguồn than cốc cũng không còn…

Đây là một ví dụ cho thấy, bản thân Nhà nước cũng rất băn khoăn khi nhìn thấy cửa đầu tư kém hiệu quả ở những dự án dở dang. Nhưng cho đến thời điểm này, câu hỏi Nhà nước có sẵn sàng trả giá không? Có dám đóng cửa các doanh nghiệp nhà nước nếu họ làm ăn không hiệu quả hoặc dừng các dự án nhìn thấy trước tương lai kém hiệu quả không? Vẫn chưa thấy câu trả lời.

Đó có thể là một nguyên nhân dẫn đến kết quả tái cơ cấu khu vực doanh nghiệp nhà nước chưa đạt được các chuyển biến cơ bản mà Dự thảo Đề án Tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 đang được Bộ Kế hoạch Đầu tư lấy ý kiến mô tả rất thẳng thắn.

Đáng chú ý, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước không làm giảm sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế, bởi quan hệ thân hữu giữa doanh nghiệp với quan chức nhà nước vẫn được duy trì ngay cả khi doanh nghiệp đã được cổ phần hóa.

Một số doanh nghiệp về thực chất chỉ là chuyển đổi hình thức từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần khi tỷ lệ bán cổ phần ra cho tư nhân rất nhỏ, hoặc không có các nhà đầu tư chiến lược đủ mạnh để thay đổi cơ chế quản trị doanh nghiệp, hoặc các đối tác mua cổ phần lại là những doanh nghiệp nhà nước, tức xét riêng là các doanh nghiệp cổ phần, nhưng xét chung trong hệ thống sở hữu chéo nhau giữa các doanh nghiệp này thì cả nhóm lại là doanh nghiệp nhà nước. Tương tự là kết quả thoái vốn nhà nước, lũy kế từ năm 2012 đến tháng 10/2015 mới thoái được 16.450 tỷ đồng, thu về 22.870 tỷ đồng, bao gồm cả thoái vốn đầu tư ngoài ngành. Con số này chỉ tương đương 2% tổng giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước trong cùng thời kỳ.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng nhấn mạnh rằng, hiện tượng một số giám đốc tự trả tiền lương cho mình một cách cao bất thường là điển hình của sự thiếu kỷ cương phép nước, chưa tuân thủ nguyên tắc “lời ăn, lỗ chịu”, chưa áp dụng nguyên tắc thị trường về giá của vốn, không dám chuyển đổi cơ cấu tài sản để sử dụng một cách hiệu quả hơn…

Nếu coi khung quản trị của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước là quản trị hiện đại theo thông lệ tốt thì quản trị thực tế áp dụng đối với các tổng công ty, tập đoàn kinh tế ở nước ta còn rất khác, có chênh lệch lớn so với khung quản trị nói trên. Cụ thể, khung quản trị của OECD có 30 nguyên tắc được khuyến cáo áp dụng thì quản trị hiện nay tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước chưa áp dụng đại bộ phận các nguyên tắc đó, chỉ mới áp dụng ở mức độ rất thấp một số ít nguyên tắc còn lại.

Và tái cơ cấu thực chất

Cũng bởi thế, bản dự thảo Đề án đã đề ra 4 mục tiêu cụ thể trong nội dung tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Đó là giảm tỷ lệ nắm giữ cổ phần của Nhà nước trong phần lớn doanh nghiệp có vốn nhà nước; giảm bớt các ngành nghề được quy định Nhà nước cần nắm giữ đa số cổ phần; thoái toàn bộ vốn nhà nước khỏi các doanh nghiệp không thuộc ngành nghề Nhà nước cần nắm giữ số cổ phần trên 50%; nâng cao hiệu quả kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp có vốn nhà nước vượt qua mức hiệu quả trung bình của ngành mà doanh nghiệp hoạt động.

Giới chuyên gia kinh tế nhìn nhận, đó là một tham vọng lớn và không dễ thực hiện nếu không có quyết tâm chính trị và sự dứt khoát, quyết liệt trong chỉ đạo điều hành. Chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành cho rằng, để thay đổi tận gốc khu vực doanh nghiệp nhà nước phải có ý chí chính trị ở cấp cao nhất.

Cần lưu ý là trong các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII vẫn đề cập kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, trong khi  muốn tái cơ cấu nền kinh tế cần phải nhấn mạnh vào kinh tế tư nhân, để làm sao Việt Nam có được những tập đoàn tư nhân lớn, có khả năng quản lý các quá trình công nghệ và quản lý phức tạp, tận dụng lợi thế quy mô, kiểm soát chi phí, kiểm soát chất lượng và cạnh tranh được trên thị trường trong và ngoài nước.

Chuyên gia kinh tế Lưu Bích Hồ cũng đánh giá cao quan điểm không chia đều vì nền kinh tế cần có mũi nhọn, cần có động lực và tấm gương để noi theo. Tái cơ cấu là phải ưu tiên cho những doanh nghiệp, địa phương làm tốt, có tiềm năng phát triển. Tinh thần này được thể hiện nhất quán trong bản dự thảo Đề án và được ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nhắc đến nhiều lần: “Giai đoạn tiếp theo cần tập trung thay đổi cấu trúc nền kinh tế, sản xuất, kinh doanh theo hướng nâng cao hiệu quả, năng suất, chất lượng, làm bệ đỡ cho tăng trưởng lâu dài”.

Còn ở góc độ cải thiện quản trị doanh nghiệp nhà nước, cả Luật sư Trương Thanh Đức, Hội Các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam và Chuyên gia Võ Trí Thành đều nói: “Giảm quy mô vốn nhà nước mới có thể nâng chất quản trị được”.

Quyết tâm tái cơ cấu kinh tế, trong đó có trụ cột doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn mới là rất lớn, song để thực hiện được những mục tiêu tham vọng trên, có lẽ cần đến cả sự dũng cảm của các cơ quan xây dựng thể chế. Trong cuộc làm việc giữa Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tháng 8 vừa qua, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng đã nhắc tới vấn đề nhạy cảm, đó là tái cơ cấu và xây dựng thế chế mới có thể đụng chạm đến rất nhiều nhóm lợi ích khác nhau. Lời khẳng định “sẽ không ngại đụng chạm” của Bộ trưởng Dũng đã thể hiện một vấn đề cốt lõi: Liệu chúng ta có thực sự dám đi đến tận cùng của việc tái cơ cấu, thay đổi tư duy và dám đổi mới mô hình tăng trưởng hay không?

Anh Việt

——————

Đầu tư Chứng khoán (Thời sự) 16-9-2016:

http://tinnhanhchungkhoan.vn/dau-tu/tai-co-cau-doanh-nghiep-nha-nuoc-dam-di-den-tan-cung-164091.html

(49/1.439)

 

Bài viết 

318. Quản lý thị trường vàng: 'Chữ Tín' của...

Quản lý thị trường vàng: 'Chữ Tín' của thể chế phải quý hơn vàng. (NĐT) -...

Trích dẫn 

4.303. Hiện thực hóa tăng trưởng cao, năng lượng...

Hiện thực hóa tăng trưởng cao, năng lượng phải đi trước một bước. (TT)...

Bình luận 

460. Bình luận về cơ sở pháp lý xử phạt sản xuất...

Bình luận về cơ sở pháp lý xử phạt sản xuất nội dung trên mạng...

Phỏng vấn 

4733. “Phí 6.600 đồng/tháng trên VETC, ePass là khoản...

“Phí 6.600 đồng/tháng trên VETC, ePass là khoản phí chồng lên phí”. (DT) – Bình luận về vấn đề này, Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), cho rằng nếu việc thu phí hoàn toàn do Nhà nước ấn định hoặc đã có sự thỏa thuận với khách hàng thì không có gì bàn cãi. Tuy nhiên, theo luật sư, trường hợp này có nhiều điểm cần được làm rõ bởi người dân gần như buộc phải tham gia hệ thống thanh toán phục vụ thu phí không dừng. "Việc thu phí này gắn liền với việc thu phí giao thông, tuy không phải là "bắt" nhưng lại "buộc" gần như tất cả phải tham gia mà không còn sự lựa chọn nào khác, nhất là cách duy nhất để đi qua rất nhiều trạm thu phí hiện nay là phải thông qua tài khoản giao thông", luật sư nêu quan điểm. Theo ông, việc bất ngờ thông báo thu phí duy trì tài khoản hàng tháng khiến dư luận có quyền đặt câu hỏi là dựa trên cơ sở pháp lý nào? Chỉ thấy bất thình lình thông báo thu phí định kỳ hàng tháng, không theo quyết định của cơ quan nhà nước, cũng chẳng theo thỏa thuận thì đó là sự áp đặt, đánh úp khách hàng. Do đó, Luật sư Trương Thanh Đức cho rằng Chính phủ và bộ quản lý cần vào cuộc xem xét việc thu phí này có được phép thực hiện hay không và mức thu có hợp lý không? "Đây không phải là một dịch vụ thông thường, mà là gắn liền với khoản phí giao thông phải nộp theo quy định cụ thể của pháp luật, người nộp không có nhiều lựa chọn thay thế và hai doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có "vị trí thống lĩnh thị trường" cũng không cứ muốn là được", luật sư nói.   Nghịch lý “xe không chạy vẫn trả phí” Luật sư Trương Thanh Đức, cho rằng các đơn vị vận hành hệ thống thu phí không dừng hiện đã có nhiều nguồn thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ và đang có nhiều lợi thế, nhất là quy mô nền kinh tế, số lượng ô tô, số lượt nộp phí và số km lăn bánh liên tục gia tăng. Với công nghệ và thực tế như hiện nay, có thể so sánh với hàng tỷ giao dịch chuyển tiền hầu hết được miễn phí mà ngân hàng vẫn có lợi. "Sử dụng đường đã nộp đủ tiền dịch vụ, giờ lại thu thêm tiền duy trì tài khoản nhiều như vậy, nhân với vài triệu tài khoản thì tự dưng kiếm được số tiền khổng lồ. Đặc biệt, xe ít chạy, thậm chí cả năm không chạy, thì không phải nộp đồng phí giao thông nào, nhưng vẫn phải nộp phí duy trì tài khoản, kể cả trong tài khoản không có hay có nhiều tiền", luật sư nêu quan điểm. Theo luật sư Đức, kể cả đã có quy định pháp luật cho thu thì cũng phải xem xét điều chỉnh, còn nếu chưa có phải lập tức ban hành quy định cho làm hay yêu cầu cấm thu, chứ không thể bất thình lình đưa ra thông báo thu phí như vậy. "Nếu hôm nay được quyền làm vậy, thì liệu năm sau có được quyền tăng phí lên gấp đôi, gấp ba không?", luật sư đặt vấn đề. Nhân viên hỗ trợ tài xế dán thẻ ETC (Ảnh: Hoàng Giám). Minh họa sự khác biệt, luật sư Đức đưa ra ví dụ, nếu hàng phở ở trạm dừng nghỉ trên tuyến đường thu phí tăng giá lên gấp đôi, thì khách hàng có quyền lựa chọn ăn mỳ hay nhịn, nhưng khoản phí này dù tăng bao nhiêu, thì xe qua trạm thu phí cũng buộc phải cắn răng chịu đựng. "Nếu hàng phở giở trò thu thêm phí chuyển khoản thì thực khách có thể trả tiền mặt, còn phương tiện qua trạm thu phí không dừng, thì chỉ có cách duy nhất thanh toán qua tài khoản giao thông", luật sư Đức so sánh. Theo luật sư, tài khoản giao thông liên quan đến tài khoản ví điện tử hay ngân hàng gì đó trong trường hợp này là phương tiện, là cách thức tổ chức để phục vụ cho việc thu phí giao thông bắt buộc, chứ không phải dịch vụ giá trị gia tăng, chẳng phải để khách hàng tự do tiêu sài vào việc khác mà phải nộp phí duy trì tài khoản. Vì vậy, hoặc là Nhà nước chịu trách nhiệm, hoặc là các bên liên quan đến việc bán dịch vụ sử dụng cầu đường, hoặc nhà nước quy định cộng thêm vào phí giao thông (tăng phí để phân bổ) thì mới đúng đắn, đơn giản, hợp lý, công bằng, sòng phẳng, rõ ràng. Đặc biệt trong bối cảnh chi phí vận tải của chúng ta rất cao, người dân và doanh nghiệp ít có lựa chọn đường miễn phí, đã phải nộp phí giao thông rất nhiều thì càng cần phải cân nhắc điều tiết. "Người ta buộc phải trả phí cho tuyến đường bộ vận tải nhộn nhịp nhất là Hà Nội - Hải Phòng, vì không có đường song hành miễn phí, nay lại phải chi thêm từ 79.200 đến 792.000 đồng mỗi năm? Nếu chấp nhận cho thu thêm khoản phí này, thì cũng cần xem xét xử lý trọn gói, là một cấu phần trong khoản phí giao thông phải nộp cho nhà đầu tư, do Nhà nước không đủ nguồn lực đảm bảo hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng, văn hóa xã hội và đi lại của nhân dân", luật sư nói.

Tám luật 

334. ANVI xì luật hay Lạm bàn tám luật.

(ANVI) - “Lạm bàn tám luật” hay còn gọi là “ANVI xì luật” Chuyên...

Số lượt truy cập: 323,666