1.548. Được quyền giữ ngoại tệ không cần khai báo

(PL) – Đang có khá nhiều quy định về sở hữu, sử dụng và giao dịch bằng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam.

Công an tỉnh Hậu Giang vừa hoàn trả 340.000 đôla Mỹ và 110.000 đôla Úc (tương đương hơn 9,5 tỉ đồng) cho ông Trương Văn Thạch, ngụ TP Vị Thanh, Hậu Giang. Trước đó, ngày 9-2, khi ông Thạch đang di chuyển trên đường thì bị lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện. Tại công an, do số tiền trên ông Thạch không chứng minh được nguồn gốc nên bị niêm phong để làm rõ. Sau gần 20 ngày xác minh, công an tỉnh nhận định ông Thạch không có dấu hiệu của hành vi buôn bán hoặc vận chuyển trái phép qua biên giới. Sau khi trao đổi với Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam, Cơ quan An ninh điều tra (Bộ Công an), công an tỉnh đã trả lại như trên.

Bị hạn chế giao dịch

Từ sự việc này hàng loạt vấn đề pháp lý được đặt ra. Người dân có quyền sở hữu bao nhiêu ngoại tệ, có phải đăng ký, kê khai với cơ quan nhà nước? Cạnh đó người sở hữu có phải chứng minh nguồn gốc ngoại tệ, có được kinh doanh, khi nào thì bị tịch thu hay xử phạt?

Theo một chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng, ngoại tệ là một loại tài sản. Luật không quy định người nắm giữ ngoại tệ phải khai báo hay đăng ký với cơ quan chức năng. Công dân Việt Nam và người cư trú trên lãnh thổ Việt Nam được sở hữu ngoại tệ không phải khai báo, trừ những người mà Điều 44 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định phải kê khai tài sản. Người dân cũng không bị hạn chế về số lượng ngoại tệ sở hữu và không phải chứng minh nguồn gốc.

Điều 24 Pháp lệnh Ngoại hối và Điều 13 Nghị định 70/2014 (hướng dẫn việc sử dụng ngoại tệ tiền mặt của cá nhân) quy định cá nhân có ngoại tệ tiền mặt được quyền cất giữ, mang theo người, cho, tặng, thừa kế, bán cho tổ chức tín dụng được phép. Họ cũng được chuyển, mang ra nước ngoài theo các quy định, thanh toán cho các đối tượng được phép thu ngoại tệ tiền mặt. Công dân Việt Nam được sử dụng ngoại tệ tiền mặt để gửi tiết kiệm ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép, được rút tiền gốc, lãi bằng đồng tiền đã gửi.

Luật sư (LS) Trương Thanh Đức (Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, Công ty Luật TNHH ANVI) cũng cho rằng người dân có quyền sở hữu ngoại tệ, không phải chứng minh nguồn gốc và kê khai (trừ trường hợp xuất nhập cảnh nếu quá 5.000 USD). Thậm chí họ còn được thực hiện một số giao dịch bằng ngoại tệ. Vì nó là một loại tiền, một loại tài sản được bảo vệ quyền sở hữu theo Điều 163 BLDS 2015. Điều 42 Luật Hợp tác xã và Điều 35 Luật Doanh nghiệp quy định ngoại tệ có thể được sử dụng để góp vốn thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã. Cạnh đó, Điều 8 Pháp lệnh Ngoại hối và Điều 13 Nghị định 70/2014 (thi hành Pháp lệnh Ngoại hối) thì cá nhân được quyền cất giữ, mang theo người, cho, tặng, thừa kế; gửi, bán, mua tại tổ chức tín dụng; chuyển, mang ra nước ngoài và thanh toán cho các đối tượng được phép thu ngoại tệ…


Sau khi xác minh, Công an tỉnh Hậu Giang đã trả lại ngoại tệ cho ông Thạch. Ảnh: INTERNET

Tuy nhiên, LS Đức cũng dẫn ra các trường hợp ngoại tệ bị hạn chế giao dịch tại Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối. Theo đó, ngoại tệ bị hạn chế trong mọi giao dịch thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác, trừ khi được phép theo quy định. Thông tư 32/2013 của NHNN giải thích rõ hơn cụm từ “các hình thức tương tự” gồm cả quy đổi hoặc điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ, giá trị của hợp đồng, thỏa thuận. Theo LS Đức, nếu vi phạm các quy định này thì bị tịch thu và xử phạt hành chính từ 40 đến 600 triệu đồng theo Nghị định 96/2014 (xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng).

Siết chặt khi xuất, nhập cảnh

Ông Nguyễn Hoàng Minh (Phó Giám đốc NHNN, Chi nhánh TP.HCM) cho biết Thông tư 15/2011 của NHNN quy định cá nhân xuất nhập cảnh bằng hộ chiếu được phép mang tối đa 5.000 đôla Mỹ hoặc các ngoại tệ khác quy đổi tương đương 15 triệu đồng. Nếu mang trên mức này thì phải khai báo với hải quan. Nếu xuất nhập cảnh qua sân bay, hải cảng mà mang theo quá quy định và không chứng minh được nguồn gốc là vận chuyển trái phép ngoại tệ. Hành vi này sẽ bị xử phạt theo quy định của Luật Hải quan. Ngoài ra người vi phạm còn bị xử phạt theo điểm i Điều 24 Nghị định 96/2014 của Chính phủ. Theo đó, phạt tiền từ 40 đến 80 triệu đồng nếu vi phạm vận chuyển, mang ngoại tệ, đồng Việt Nam ra nước ngoài, vào Việt Nam không đúng quy định và bị tịch thu toàn bộ số tiền đó.

Bà Lê Thị Thanh Hà (Phó Trưởng phòng Chống buôn lậu và xử lý vi phạm, Cục Hải quan TP.HCM) cho biết khi xuất nhập cảnh mà không khai báo hoặc khai sai với số ngoại tệ lớn thì người vi phạm có thể bị xử lý hình sự. Với vi phạm nhỏ thì tùy theo trị giá số tiền không khai báo sẽ có mức xử phạt hành chính với số tiền tương ứng.

Cũng theo ông Minh, người nhập cảnh có gửi ngoại tệ vào tài khoản ngân hàng cũng phải khai báo với hải quan. Nếu xuất nhập cảnh bằng chứng minh nhân dân hoặc giấy thông hành biên giới như sang Lào, Campuchia, Trung Quốc thì không được đem theo đôla Mỹ hay ngoại tệ khác. Họ chỉ được đem theo tiền Việt và đồng tiền của nước sẽ đến. Những người được phép mua và chuyển ngoại tệ ra nước ngoài được quy định tại Điều 7 Nghị định 70/2014. Theo đó, chỉ khi dùng cho mục đích học tập, chữa bệnh ở nước ngoài, đi công tác, đi du lịch, đi thăm thân nhân và trợ cấp cho thân nhân ở nước ngoài, chuyển tiền thừa kế.

Ai được kinh doanh ngoại tệ?

Theo Luật NHNN Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng, Pháp lệnh Ngoại hối… thì tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối là các ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, được kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối…

Theo LS Nguyễn Văn Hồng (Đoàn Luật sư TP.HCM), nếu căn cứ vào quy định trên thì cá nhân có quyền sở hữu nhưng không được phép kinh doanh ngoại tệ. Tuy nhiên, nếu chỉ có việc vận chuyển ngoại tệ như ông Thạch mà không chứng minh được ông kinh doanh thì không thể nói ông này vi phạm để thu giữ. Giả thiết ông Thạch là chủ tiệm vàng thì khi phát hiện ông mang ngoại tệ trên đường cũng không đồng nghĩa với việc ông kinh doanh trái phép. Vì thế dù chủ tiệm vàng có quyền kinh doanh ngoại tệ hay không cũng không có nghĩa vụ phải chứng minh nguồn gốc.

P.LOAN – T.LINH – C.LUẬN

—————————–

 

Cấm và được đối với ngoại tệ

 

Theo quy định tại Điều 22 về “Quy định hạn chế sử dụng ngoại hối”, Pháp lệnh ngoại hối năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) thì ngoại tệ bị hạn chế giao dịch nói chung, cụ thể là: Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác, trừ các trường hợp được phép theo quy định của pháp luật. Theo quy định này, về nguyên tắc là cấm “mọi giao dịch” bằng ngoại tệ. Thông tư số 32/2013/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước còn giải thích rõ thêm “các hình thức tương tự” là “bao gồm cả quy đổi hoặc điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ, giá trị của hợp đồng, thỏa thuận”. Nếu vi phạm vào các quy định này thì có thể bị tịch thu và xử phạt hành chính từ 40 – 600 triệu đồng theo Nghị định số 96/2014/NĐ-CP  ngày 17-10-2014 của Chính phủ “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng”.

Tuy nhiên, theo các quy định khác thì người dân và doanh nghiệp vẫn được sở hữu và thực hiện một số giao dịch ngoại tệ. Đó là ngoại tệ cũng là một loại tiền nói riêng, một loại tài sản nói chung theo quy định của Bộ luật dân sự, nên có quyền sở hữu và không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái luật quyền sở hữu theo quy định tại Điều 32, Hiến pháp năm 2013 và đặc biệt là Điều 163 về “Bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản”, Bộ luật dân sự năm 2015. Như vậy, công dân có quyền sở hữu ngoại tệ không hạn chế, không phải chứng minh, không phải đăng ký kê khai với cơ quan nào (trừ trường hợp xuất nhập cảnh với mức tương đương quá 5.000 USD)

Điều 42 về “Xác định giá trị vốn góp”, Luật hợp tác xã năm 2012 và Điều 35 về “Tài sản góp vốn”, Luật doanh nghiệp năm 2014 cũng đã quy định rõ ngoại tệ có thể được sử dụng để góp vốn thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã. Cụ thể hơn nữa, đối với tiền mặt ngoại tệ thì cá nhân được quyền cất giữ, mang theo người, cho, tặng, thừa kế; gửi, bán, mua tại tổ chức tín dụng; chuyển, mang ra nước ngoài và thanh toán cho các đối tượng được phép thu ngoại tệ theo quy định tại Điều 8 về “Chuyển tiền một chiều”, Pháp lệnh ngoại hối và Điều 13 về “Sử dụng ngoại tệ tiền mặt của cá nhân”, Nghị định số 70/2014/NĐ-CP ngày 17-7-2014 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này. Ngoài ra, có thể suy luận, người sở hữu ngoại tệ tiền mặt cũng được cầm cố, đặt cọc, ký cược, ký quỹ tại tổ chức tín dụng và các tổ chức khác được phép giao dịch ngoại tệ.

P.LOAN – T.LINH – C.LUẬN

—————

Pháp luật TP Hồ Chí Minh (Pháp luật) 03-3-2017:

http://plo.vn/phap-luat/duoc-quyen-giu-ngoai-te-khong-can-khai-bao-686319.html

(303/1.340)

 

 

Bài viết 

318. Quản lý thị trường vàng: 'Chữ Tín' của...

Quản lý thị trường vàng: 'Chữ Tín' của thể chế phải quý hơn vàng. (NĐT) -...

Trích dẫn 

4.303. Hiện thực hóa tăng trưởng cao, năng lượng...

Hiện thực hóa tăng trưởng cao, năng lượng phải đi trước một bước. (TT)...

Bình luận 

460. Bình luận về cơ sở pháp lý xử phạt sản xuất...

Bình luận về cơ sở pháp lý xử phạt sản xuất nội dung trên mạng...

Phỏng vấn 

4733. “Phí 6.600 đồng/tháng trên VETC, ePass là khoản...

“Phí 6.600 đồng/tháng trên VETC, ePass là khoản phí chồng lên phí”. (DT) – Bình luận về vấn đề này, Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), cho rằng nếu việc thu phí hoàn toàn do Nhà nước ấn định hoặc đã có sự thỏa thuận với khách hàng thì không có gì bàn cãi. Tuy nhiên, theo luật sư, trường hợp này có nhiều điểm cần được làm rõ bởi người dân gần như buộc phải tham gia hệ thống thanh toán phục vụ thu phí không dừng. "Việc thu phí này gắn liền với việc thu phí giao thông, tuy không phải là "bắt" nhưng lại "buộc" gần như tất cả phải tham gia mà không còn sự lựa chọn nào khác, nhất là cách duy nhất để đi qua rất nhiều trạm thu phí hiện nay là phải thông qua tài khoản giao thông", luật sư nêu quan điểm. Theo ông, việc bất ngờ thông báo thu phí duy trì tài khoản hàng tháng khiến dư luận có quyền đặt câu hỏi là dựa trên cơ sở pháp lý nào? Chỉ thấy bất thình lình thông báo thu phí định kỳ hàng tháng, không theo quyết định của cơ quan nhà nước, cũng chẳng theo thỏa thuận thì đó là sự áp đặt, đánh úp khách hàng. Do đó, Luật sư Trương Thanh Đức cho rằng Chính phủ và bộ quản lý cần vào cuộc xem xét việc thu phí này có được phép thực hiện hay không và mức thu có hợp lý không? "Đây không phải là một dịch vụ thông thường, mà là gắn liền với khoản phí giao thông phải nộp theo quy định cụ thể của pháp luật, người nộp không có nhiều lựa chọn thay thế và hai doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có "vị trí thống lĩnh thị trường" cũng không cứ muốn là được", luật sư nói.   Nghịch lý “xe không chạy vẫn trả phí” Luật sư Trương Thanh Đức, cho rằng các đơn vị vận hành hệ thống thu phí không dừng hiện đã có nhiều nguồn thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ và đang có nhiều lợi thế, nhất là quy mô nền kinh tế, số lượng ô tô, số lượt nộp phí và số km lăn bánh liên tục gia tăng. Với công nghệ và thực tế như hiện nay, có thể so sánh với hàng tỷ giao dịch chuyển tiền hầu hết được miễn phí mà ngân hàng vẫn có lợi. "Sử dụng đường đã nộp đủ tiền dịch vụ, giờ lại thu thêm tiền duy trì tài khoản nhiều như vậy, nhân với vài triệu tài khoản thì tự dưng kiếm được số tiền khổng lồ. Đặc biệt, xe ít chạy, thậm chí cả năm không chạy, thì không phải nộp đồng phí giao thông nào, nhưng vẫn phải nộp phí duy trì tài khoản, kể cả trong tài khoản không có hay có nhiều tiền", luật sư nêu quan điểm. Theo luật sư Đức, kể cả đã có quy định pháp luật cho thu thì cũng phải xem xét điều chỉnh, còn nếu chưa có phải lập tức ban hành quy định cho làm hay yêu cầu cấm thu, chứ không thể bất thình lình đưa ra thông báo thu phí như vậy. "Nếu hôm nay được quyền làm vậy, thì liệu năm sau có được quyền tăng phí lên gấp đôi, gấp ba không?", luật sư đặt vấn đề. Nhân viên hỗ trợ tài xế dán thẻ ETC (Ảnh: Hoàng Giám). Minh họa sự khác biệt, luật sư Đức đưa ra ví dụ, nếu hàng phở ở trạm dừng nghỉ trên tuyến đường thu phí tăng giá lên gấp đôi, thì khách hàng có quyền lựa chọn ăn mỳ hay nhịn, nhưng khoản phí này dù tăng bao nhiêu, thì xe qua trạm thu phí cũng buộc phải cắn răng chịu đựng. "Nếu hàng phở giở trò thu thêm phí chuyển khoản thì thực khách có thể trả tiền mặt, còn phương tiện qua trạm thu phí không dừng, thì chỉ có cách duy nhất thanh toán qua tài khoản giao thông", luật sư Đức so sánh. Theo luật sư, tài khoản giao thông liên quan đến tài khoản ví điện tử hay ngân hàng gì đó trong trường hợp này là phương tiện, là cách thức tổ chức để phục vụ cho việc thu phí giao thông bắt buộc, chứ không phải dịch vụ giá trị gia tăng, chẳng phải để khách hàng tự do tiêu sài vào việc khác mà phải nộp phí duy trì tài khoản. Vì vậy, hoặc là Nhà nước chịu trách nhiệm, hoặc là các bên liên quan đến việc bán dịch vụ sử dụng cầu đường, hoặc nhà nước quy định cộng thêm vào phí giao thông (tăng phí để phân bổ) thì mới đúng đắn, đơn giản, hợp lý, công bằng, sòng phẳng, rõ ràng. Đặc biệt trong bối cảnh chi phí vận tải của chúng ta rất cao, người dân và doanh nghiệp ít có lựa chọn đường miễn phí, đã phải nộp phí giao thông rất nhiều thì càng cần phải cân nhắc điều tiết. "Người ta buộc phải trả phí cho tuyến đường bộ vận tải nhộn nhịp nhất là Hà Nội - Hải Phòng, vì không có đường song hành miễn phí, nay lại phải chi thêm từ 79.200 đến 792.000 đồng mỗi năm? Nếu chấp nhận cho thu thêm khoản phí này, thì cũng cần xem xét xử lý trọn gói, là một cấu phần trong khoản phí giao thông phải nộp cho nhà đầu tư, do Nhà nước không đủ nguồn lực đảm bảo hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng, văn hóa xã hội và đi lại của nhân dân", luật sư nói.

Tám luật 

334. ANVI xì luật hay Lạm bàn tám luật.

(ANVI) - “Lạm bàn tám luật” hay còn gọi là “ANVI xì luật” Chuyên...

Số lượt truy cập: 323,729