297. Không thể đánh đồng ‘đất’ và ‘quyền sử dụng đất’

Không thể đánh đồng ‘đất’ và ‘quyền sử dụng đất’

(VNN) – Với trách nhiệm của một luật sư đã tham gia góp ý 5 kỳ sửa đổi Luật Đất đai, tôi kiến nghị, đất thuộc sở hữu toàn dân, dân phải được quyền mua bán, hay chí ít phải được quyền chuyển nhượng, chứ không phải là chuyển nhượng quyền sử dụng đất đai.

LTS: Tiếp tục đóng góp ý kiến cho dự thảo luật Đất đai sửa đổi, Tuần Việt Nam xin giới thiệu những kiến nghị của Luật sư Trương Thanh Đức.

Trên tinh thần đó, đối với dự thảo luật Đất đai sửa đổi, sau đây gọi là dự luật, tôi thấy cần góp ý về một số vấn đề chung mang tính nền tảng.

Lấn cấn giữa đất và quyền sử dụng đất

Điều 3 về “Giải thích từ ngữ”, luật Đất đai hiện hành năm 2013 giải thích một loạt từ ngữ, theo đó, “đất” cũng chính là “quyền sử dụng đất”. Đó là các khoản sau: Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là nhà nước giao đất); Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước cho thuê đất); Giá đất là giá trị của quyền sử dụng đất; Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất.

Tương tự “đất” cũng chính là “quyền sử dụng đất” trong dự thảo luật Đất đai (sửa đổi), sau đây gọi là dự luật: Bồi thường quyền sử dụng đất khi nhà nước thu hồi đất (sau đây gọi là bồi thường về đất); Chiếm đất là việc sử dụng đất; Giá đất là giá trị của quyền sử dụng đất tính bằng tiền trên một đơn vị diện tích đất; Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất (sau đây gọi là nhà nước cho thuê đất); Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là nhà nước giao đất); Nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất.

Như vậy, bám sát các quy định nêu trên, có thể diễn đạt như sau:

“Bồi thường quyền sử dụng đất” cũng chính là “Bồi thường về đất”. “Chiếm quyền sử dụng đất” là “Chiếm đất”. “Cho thuê quyền sử dụng đất” là “Cho thuê đất”. “Giá trị quyền sử dụng đất” là “Giá trị đất”. “Giao quyền sử dụng đất” là “Giao đất”. “Thu lại quyền sử dụng đất” cũng chính là “Thu hồi đất”. “Tranh chấp về quyền sử dụng đất” là “tranh chấp đất đai”.

Điều 12 về “Những hành vi bị nghiêm cấm” của dự luật cũng quy định: Cấm lấn, chiếm, hủy hoại “đất đai”, chứ không cấm lấn, chiếm, hủy hoại “quyền sử dụng đất”. Cấm sử dụng “đất” không đúng mục đích, chứ không cấm sử dụng “quyền sử dụng đất” không đúng mục đích. Cấm sử dụng “đất” mà không đăng ký, chứ không cấm sử dụng “quyền sử dụng đất” mà không đăng ký.

Cấm làm trái quy định về quản lý, sử dụng “đất đai”, chứ không cấm làm trái quy định về quản lý, sử dụng “quyền sử dụng đất đai”. Cấm cung cấp thông tin về “đất đai” không chính xác chứ không cấm cung cấp thông tin về “quyền sử dụng đất đai” không chính xác.

Cấm cản trở, gây khó khăn đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng “đất”, chứ không cấm cản trở, gây khó khăn đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng “quyền sử dụng đất”.

Cấm phân biệt đối xử về giới trong hoạt động quản lý, sử dụng “đất đai”, chứ không cấm phân biệt đối xử về giới trong hoạt động quản lý, sử dụng “quyền sử dụng đất đai”.

Khi đề cập đến quyền, nghĩa vụ của mọi chủ thể từ “toàn dân”, nhà nước, cho đến “tổ chức, cá nhân, chủ thể khác”, dự luật chỉ đề cập đến các cụm từ “sở hữu đất” chứ không hề nói đến sở hữu “quyền sử dụng đất”; chỉ viết là sử dụng “đất” chứ không viết là sử dụng “quyền sử dụng đất”. Nhưng khi quy định về chuyển nhượng hay cho thuê thì dự luật lại viết rất mâu thuẫn, khó hiểu, với 3 cách diễn đạt hoàn toàn khác nhau:

Thứ nhất, chỉ quy định “chuyển nhượng đất nông nghiệp” chứ không viết chuyển nhượng “quyền sử dụng đất nông nghiệp” (Điều khoản 49.4,…).

Không thể đánh đồng đất và quyền sử dụng đất

Ảnh minh hoạ: Hoàng Hà

Thứ hai, quy định ngược là “chuyển nhượng “quyền sử dụng đất” rừng phòng hộ”, chứ không viết là “chuyển nhượng “đất” rừng phòng hộ” hay viết “chuyển nhượng “quyền sử dụng đất” gắn với hạ tầng”, chứ không viết là “chuyển nhượng “đất” gắn với hạ tầng” (Điều khoản 49.6.b, 119.5,…).

Thứ ba, quy định đồng thời việc “cho thuê “đất”“ và “cho thuê “quyền sử dụng đất”“ (Điều khoản 29.1, 34.2,…).

Xét về nguyên lý căn bản, chỉ có thể bán, cho mượn, cho thuê, chuyển nhượng, góp vốn, tặng cho, thế chấp, thừa kế, trao đổi… “tài sản”, chứ không thể bán, cho mượn, cho thuê, chuyển nhượng, góp vốn, tặng cho, thế chấp, thừa kế, trao đổi… “quyền sử dụng tài sản”.

Theo đó, cũng chỉ có thể bán (đấu giá), cho mượn, cho thuê, chuyển đổi, chuyển nhượng, góp vốn, tặng cho, thế chấp, thừa kế… “đất”, chứ không thể bán (đấu giá), cho mượn, cho thuê, chuyển đổi, chuyển nhượng, góp vốn, tặng cho, thế chấp, thừa kế… “quyền sử dụng đất”.

Riêng đối với chuyển nhượng đất thuê cần gọi là chuyển nhượng quyền thuê đất, không nên diễn đạt thành chuyển nhượng “quyền thuê trong hợp đồng thuê đất” hay gọi dài dòng là “chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với quyền sử dụng đất thuê như dự luật.

Tóm lại, cần sử dụng chính xác, rõ ràng và đơn giản nhất, mà vẫn theo đúng với Hiến pháp và một số nhiều quy định của luật này cũng như các luật khác là bán (đấu giá) “đất”, bồi thường “đất”, cho mượn “đất”, cho thuê “đất”, chuyển đổi “đất” (trao đổi “đất”), chuyển nhượng “đất”, giao “đất”, định giá “đất”, góp vốn bằng “đất”, tặng cho “đất”, thế chấp “đất”, thu hồi “đất”, thừa kế “đất”, tranh chấp “đất”… chứ không thể sử dụng các cụm từ bán (đấu giá) “quyền sử dụng đất”, bồi thường “quyền sử dụng đất”, cho mượn “quyền sử dụng đất”, cho thuê “quyền sử dụng đất”, chuyển đổi “quyền sử dụng đất” (trao đổi “quyền sử dụng đất”), chuyển nhượng “quyền sử dụng đất”, giao “quyền sử dụng đất”, định giá “quyền sử dụng đất”, góp vốn bằng “quyền sử dụng đất”, tặng cho “quyền sử dụng đất”, thế chấp “quyền sử dụng đất”, thu hồi “quyền sử dụng đất”, thừa kế “quyền sử dụng đất”, tranh chấp “quyền sử dụng đất”…

Không thể đánh đồng đất và quyền sử dụng đất

Đất thuộc sở hữu toàn dân, dân phải được quyền mua bán, hay chí ít phải được quyền chuyển nhượng.

Phân biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đất

Nếu cứ quy định bán (đấu giá), cho mượn, cho thuê, chuyển đổi (trao đổi), chuyển nhượng, góp vốn, tặng cho, thế chấp, thừa kế… “quyền sử dụng đất”, lại buộc phải giải thích rắc rối, phi lý và luẩn quẩn như lâu nay rằng, “quyền sở hữu đất” gồm 3 quyền “chiếm hữu”, “sử dụng” và “định đoạt” (Điều 158 về “Quyền sở hữu”, Bộ luật Dân sự năm 2015) đất.

Mọi pháp nhân, cá nhân và nhóm cá nhân (tổ chức phi pháp nhân) chỉ có một trong ba quyền, đó là “quyền sử dụng đất”, nhưng lại có đủ ba quyền “chiếm hữu”, “sử dụng” và “định đoạt” đối với “quyền sử dụng đất” như một loại tài sản, nên mới có đủ quyền bán (đấu giá), cho mượn, cho thuê, chuyển đổi (trao đổi), chuyển nhượng, góp vốn, tặng cho, thế chấp, thừa kế… loại tài sản “quyền sử dụng đất”.

Về nguyên tắc, chỉ nhà nước là đại diện chủ sở hữu mới được bán đất (hay bán quyền sử dụng đất) tức là, bán tài sản dưới hình thức đấu giá. Vì vậy, việc đấu giá đất được quy định tại các điều 4, 14, 24, 30, 65, 78, 85, 115, 116, 125, 126, 128, 134, 150, 154, 155,… của dự luật. Còn pháp nhân, cá nhân và nhóm cá nhân (tổ chức phi pháp nhân) hoàn toàn được quyền chuyển nhượng “đất”, chứ không cần phải quy định là chuyển nhượng “quyền sử dụng đất”.

Thậm chí, nhiều quy định khác của luật lại vẫn cho phép pháp nhân, cá nhân và nhóm cá nhân (tổ chức phi pháp nhân) được bán đấu giá quyền sử dụng đất, mà thực chất là bán đất.

Ví dụ, theo quy định tại khoản 2, Điều 5 về “Giải thích từ ngữ”, luật Đấu giá năm 2016 thì “đấu giá” là một hình thức bán tài sản. Và khoản 1, Điều 4 về “Tài sản đấu giá” của luật này quy định, các tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá, bao gồm nhiều loại, trong đó có “Tài sản là quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai” hay “Tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm”.

Tức là, không chỉ nhà nước bán đất hay quyền sử dụng đất, mà pháp nhân, cá nhân và nhóm cá nhân (tổ chức phi pháp nhân) cũng bán đất hay quyền sử dụng đất (đấu giá).

Điểm a, khoản 1, Điều 303 về “Phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp”, bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định, bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp là “Bán đấu giá tài sản”, mà đất, hay quyền sử dụng đất là một loại tài sản thế chấp rất phổ biến.

Không thể đánh đồng đất và quyền sử dụng đất

Cần quy định chính xác, rõ ràng, chủ thể sử dụng “đất” chứ không phải là chủ thể sử dụng “quyền sử dụng đất”

Luật Đất đai hiện hành năm 2013 cũng như dự luật chỉ cho phép pháp nhân, cá nhân và nhóm cá nhân (tổ chức không có tư cách pháp nhân) thế chấp “quyền sử dụng” đất, chứ không được thế chấp “đất”.

Tuy nhiên, khoản 1, Điều 295 về “Tài sản bảo đảm”, bộ luật Dân sự năm 2015 quy định điều kiện đầu tiên của việc thế chấp là “Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm”.

Trong khi đó, luật không hề có quy định cho pháp nhân, cá nhân và nhóm cá nhân (tổ chức không có tư cách pháp nhân) có quyền sở hữu quyền đối với “quyền sử dụng đất” nhưng lại vẫn cứ được “thế chấp quyền sử dụng đất”.

Ngoài ra, dự luật cũng như tất cả các luật Đất đai trước đây đều không quy định về việc mượn và cho mượn đất (hay quyền sử dụng đất), mà chỉ quy định chế tài thu hồi đất nếu “cho mượn trái pháp luật”. Cần phải công nhận và quy định về quyền mượn và cho mượn đất, vì đây là một quyền rất cần thiết, hợp lý, chính đáng, khả thi và thực tế.

Xác định chủ thể sử dụng đất

Trước hết, cần phải quy định chính xác, đơn giản và rõ ràng, chủ thể sử dụng “đất” chứ không phải là chủ thể sử dụng “quyền sử dụng đất”, hay người sử dụng “đất” chứ không phải là người sử dụng “quyền sử dụng đất”.

Vì nếu nói là các chủ thể chỉ có quyền sử dụng “quyền sử dụng đất” sẽ không có bất cứ chủ thể nào là chủ thể có quyền sử dụng chính tài sản là “đất”. Ta “sử dụng cái ô tô” thay vì nói “sử dụng quyền sử dụng ô tô”.

Thị trường bất động sản, vì sao nên nỗi?Thị trường bất động sản đang trầm lắng, nếu để kéo dài không chỉ gây lãng phí mà còn tác động tiêu cực đến khả năng trả nợ đối với các doanh nghiệp đầu tư làm dự án.

Người sử dụng đất không thể là “tổ chức”, vì đó là khái niệm mang nặng tính xã hội, đời sống, khái niệm không chặt chẽ, rõ ràng, chính xác về pháp lý (thậm chí là phi pháp lý) trong mối quan hệ giao dịch, hợp đồng, quyền, nghĩa vụ (trách nhiệm) pháp lý.

Cần phải xác định lại trong cả hệ thống pháp luật, trước hết là trong luật này, chủ thể quan hệ dân sự chỉ có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Tổ chức nếu có tư cách pháp nhân phải giao dịch với tư cách pháp nhân, nếu tổ chức không có tư cách pháp nhân thì phải được sự uỷ quyền của pháp nhân hoặc phải giao dịch với tư cách một cá nhân (như doanh nghiệp tư nhân hay hộ gia đình chỉ có một người) hoặc với tư cách một số cá nhân (như tổ hợp tác hay hộ gia đình có từ hai cá nhân trở lên).

Trong lúc hệ thống pháp luật còn chưa sửa đổi theo hướng thống nhất, chuẩn xác, gần như tất cả các đạo luật còn mập mờ, chưa phân biệt rõ ràng về quyền, nghĩa vụ giữa tổ chức là pháp nhân và tổ chức không có tư cách pháp nhân, luật Đất đai cần phải đóng vai trò tiên phong trong việc xác định lại chủ thể quyền sở hữu, quyền sử dụng và giao dịch đất đai.

Lý do đây là luật quan trọng nhất trên thực tế mang tính nền tảng xác định chủ thể trên “sổ đỏ”, giấy chứng nhận sở hữu nhà ở, công trình xây dựng khác và những giao dịch tài sản lớn, bao trùm, phổ biến nhất của cả trăm triệu người dân và pháp nhân, trong đó có nhà nước.

Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI

—————————–

Vietnamnet (Tuần Việt Nam) 01-3-2023:

https://vietnamnet.vn/khong-the-danh-dong-dat-va-quyen-su-dung-dat-2115384.html

(2.409)

(PV Hoàng Tư Giang biên)

Bài viết 

318. Quản lý thị trường vàng: 'Chữ Tín' của...

Quản lý thị trường vàng: 'Chữ Tín' của thể chế phải quý hơn vàng. (NĐT) -...

Trích dẫn 

4.303. Hiện thực hóa tăng trưởng cao, năng lượng...

Hiện thực hóa tăng trưởng cao, năng lượng phải đi trước một bước. (TT)...

Bình luận 

460. Bình luận về cơ sở pháp lý xử phạt sản xuất...

Bình luận về cơ sở pháp lý xử phạt sản xuất nội dung trên mạng...

Phỏng vấn 

4733. “Phí 6.600 đồng/tháng trên VETC, ePass là khoản...

“Phí 6.600 đồng/tháng trên VETC, ePass là khoản phí chồng lên phí”. (DT) – Bình luận về vấn đề này, Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), cho rằng nếu việc thu phí hoàn toàn do Nhà nước ấn định hoặc đã có sự thỏa thuận với khách hàng thì không có gì bàn cãi. Tuy nhiên, theo luật sư, trường hợp này có nhiều điểm cần được làm rõ bởi người dân gần như buộc phải tham gia hệ thống thanh toán phục vụ thu phí không dừng. "Việc thu phí này gắn liền với việc thu phí giao thông, tuy không phải là "bắt" nhưng lại "buộc" gần như tất cả phải tham gia mà không còn sự lựa chọn nào khác, nhất là cách duy nhất để đi qua rất nhiều trạm thu phí hiện nay là phải thông qua tài khoản giao thông", luật sư nêu quan điểm. Theo ông, việc bất ngờ thông báo thu phí duy trì tài khoản hàng tháng khiến dư luận có quyền đặt câu hỏi là dựa trên cơ sở pháp lý nào? Chỉ thấy bất thình lình thông báo thu phí định kỳ hàng tháng, không theo quyết định của cơ quan nhà nước, cũng chẳng theo thỏa thuận thì đó là sự áp đặt, đánh úp khách hàng. Do đó, Luật sư Trương Thanh Đức cho rằng Chính phủ và bộ quản lý cần vào cuộc xem xét việc thu phí này có được phép thực hiện hay không và mức thu có hợp lý không? "Đây không phải là một dịch vụ thông thường, mà là gắn liền với khoản phí giao thông phải nộp theo quy định cụ thể của pháp luật, người nộp không có nhiều lựa chọn thay thế và hai doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có "vị trí thống lĩnh thị trường" cũng không cứ muốn là được", luật sư nói.   Nghịch lý “xe không chạy vẫn trả phí” Luật sư Trương Thanh Đức, cho rằng các đơn vị vận hành hệ thống thu phí không dừng hiện đã có nhiều nguồn thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ và đang có nhiều lợi thế, nhất là quy mô nền kinh tế, số lượng ô tô, số lượt nộp phí và số km lăn bánh liên tục gia tăng. Với công nghệ và thực tế như hiện nay, có thể so sánh với hàng tỷ giao dịch chuyển tiền hầu hết được miễn phí mà ngân hàng vẫn có lợi. "Sử dụng đường đã nộp đủ tiền dịch vụ, giờ lại thu thêm tiền duy trì tài khoản nhiều như vậy, nhân với vài triệu tài khoản thì tự dưng kiếm được số tiền khổng lồ. Đặc biệt, xe ít chạy, thậm chí cả năm không chạy, thì không phải nộp đồng phí giao thông nào, nhưng vẫn phải nộp phí duy trì tài khoản, kể cả trong tài khoản không có hay có nhiều tiền", luật sư nêu quan điểm. Theo luật sư Đức, kể cả đã có quy định pháp luật cho thu thì cũng phải xem xét điều chỉnh, còn nếu chưa có phải lập tức ban hành quy định cho làm hay yêu cầu cấm thu, chứ không thể bất thình lình đưa ra thông báo thu phí như vậy. "Nếu hôm nay được quyền làm vậy, thì liệu năm sau có được quyền tăng phí lên gấp đôi, gấp ba không?", luật sư đặt vấn đề. Nhân viên hỗ trợ tài xế dán thẻ ETC (Ảnh: Hoàng Giám). Minh họa sự khác biệt, luật sư Đức đưa ra ví dụ, nếu hàng phở ở trạm dừng nghỉ trên tuyến đường thu phí tăng giá lên gấp đôi, thì khách hàng có quyền lựa chọn ăn mỳ hay nhịn, nhưng khoản phí này dù tăng bao nhiêu, thì xe qua trạm thu phí cũng buộc phải cắn răng chịu đựng. "Nếu hàng phở giở trò thu thêm phí chuyển khoản thì thực khách có thể trả tiền mặt, còn phương tiện qua trạm thu phí không dừng, thì chỉ có cách duy nhất thanh toán qua tài khoản giao thông", luật sư Đức so sánh. Theo luật sư, tài khoản giao thông liên quan đến tài khoản ví điện tử hay ngân hàng gì đó trong trường hợp này là phương tiện, là cách thức tổ chức để phục vụ cho việc thu phí giao thông bắt buộc, chứ không phải dịch vụ giá trị gia tăng, chẳng phải để khách hàng tự do tiêu sài vào việc khác mà phải nộp phí duy trì tài khoản. Vì vậy, hoặc là Nhà nước chịu trách nhiệm, hoặc là các bên liên quan đến việc bán dịch vụ sử dụng cầu đường, hoặc nhà nước quy định cộng thêm vào phí giao thông (tăng phí để phân bổ) thì mới đúng đắn, đơn giản, hợp lý, công bằng, sòng phẳng, rõ ràng. Đặc biệt trong bối cảnh chi phí vận tải của chúng ta rất cao, người dân và doanh nghiệp ít có lựa chọn đường miễn phí, đã phải nộp phí giao thông rất nhiều thì càng cần phải cân nhắc điều tiết. "Người ta buộc phải trả phí cho tuyến đường bộ vận tải nhộn nhịp nhất là Hà Nội - Hải Phòng, vì không có đường song hành miễn phí, nay lại phải chi thêm từ 79.200 đến 792.000 đồng mỗi năm? Nếu chấp nhận cho thu thêm khoản phí này, thì cũng cần xem xét xử lý trọn gói, là một cấu phần trong khoản phí giao thông phải nộp cho nhà đầu tư, do Nhà nước không đủ nguồn lực đảm bảo hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng, văn hóa xã hội và đi lại của nhân dân", luật sư nói.

Tám luật 

334. ANVI xì luật hay Lạm bàn tám luật.

(ANVI) - “Lạm bàn tám luật” hay còn gọi là “ANVI xì luật” Chuyên...

Số lượt truy cập: 323,703