301. Quyền của công dân đối với đất đai trong mối quan hệ với quyền sở hữu toàn dân

Quyền của công dân đối với đất đai trong mối quan hệ với quyền sở hữu toàn dân

(QĐND) – Bên cạnh việc cần phân biệt rõ ràng giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đất, một vấn đề quan trọng nữa là cần làm rõ nội hàm khái niệm quyền sử dụng đất gồm những gì và nằm trong mối quan hệ với quyền sở hữu toàn dân về đất đai như thế nào.
Phân biệt giữa “quyền sở hữu” và “quyền sử dụng đất”

Điều 13 về “Sở hữu đất đai”, dự luật quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của luật này. Quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu; quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được pháp luật bảo hộ”.

Tuy nhiên, Luật Đất đai năm 2013 hiện hành cũng như dự thảo luật năm 2023 đang lấy ý kiến nhân dân không có sự phân biệt rõ ràng, khoa học và chính xác, dù chỉ ở mức tối thiểu về các quyền của chủ sở hữu và quyền của chủ sử dụng đất. Lý do quan trọng nhất là không minh định được thế nào là sở hữu toàn dân hay chủ sở hữu toàn dân là ai.

Đối với loại tài sản đặc biệt là đất đai thuộc sở hữu toàn dân, có thể hiểu rằng, Nhà nước được nhân dân ủy quyền (ủy thác, phó thác, giao quyền) cho việc thực hiện các quyền của chủ sở hữu nên được toàn quyền giao dịch như bán, cho mượn, cho thuê, góp vốn, tặng cho, thế chấp… Tuy nhiên, nếu theo thật đúng và hiểu thật sâu quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân của Hiến pháp năm 2013 thì không đồng nghĩa với việc người dân cụ thể không có quyền sở hữu đối với đất đai. Vì đương nhiên đối với đất đai được Nhà nước cho thuê hay giao đất không thu tiền hay cho mượn thì đúng là người dân chỉ được quyền chiếm hữu và quyền sử dụng đất, mà không bao giờ có quyền sở hữu, hay không có quyền định đoạt tài sản là đất đai.

Theo đó, mọi pháp nhân và cá nhân (nhóm cá nhân) sử dụng đất  đều có quyền chiếm hữu (phải chiếm hữu thì mới sử dụng được) và quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, nếu người sử dụng đất không có quyền sở hữu với loại tài sản có thể nói đặc biệt của đặc biệt là “quyền sử dụng đất” thì sẽ không có quyền chuyển nhượng, thế chấp, tặng cho, chuyển đổi… quyền sử dụng đất với tư cách là một loại tài sản. Chỉ khi nào người sử dụng đất có quyền định đoạt quyền sử dụng đất thì mới có các quyền của chủ sở hữu hoặc tương tự như đối với chủ sở hữu.

Rất may là Điều 115 về “Quyền tài sản”, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã xác quyết rõ ràng rằng, quyền sử dụng đất cũng chính là một loại tài sản. Do đó, người chủ sử dụng đất hợp pháp cũng chính là người có quyền sở hữu đối với tài sản là quyền sử dụng đất ấy, với đầy đủ 3 quyền năng là quyền chiếm hữu quyền sử dụng đất, quyền sử dụng quyền sử dụng đất và quyền định đoạt quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 158 về “Quyền sở hữu”, Bộ luật Dân sự năm 2015.

công dân đối với đất đai
Luật Đất đai cần phân biệt rõ ràng giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đất để pháp nhân, cá nhân và nhóm cá nhân (tổ chức phi pháp nhân) nắm rõ quyền lợi, trách nhiệm. Trong ảnh: Khu tái định cư Ngọc Thụy – Thượng Thanh, quận Long Biên (Hà Nội) phục vụ tái định cư cho người dân bị thu hồi đất phục vụ một số dự án trên địa bàn. Ảnh: ĐỨC TUẤN

Tuy nhiên, nếu dự luật tiếp tục đi theo hướng cứ quy định việc bán, chuyển nhượng, cho mượn, cho thuê, chuyển đổi (trao đổi), góp vốn, tặng cho, thế chấp, thừa kế… quyền sử dụng đất, chứ không phải là chính thửa đất thì lại buộc phải tiếp tục giải thích một cách rất rắc rối, phi lý và luẩn quẩn như lâu nay rằng, quyền sử dụng đất gồm 3 quyền là “chiếm hữu”, “sử dụng” và “định đoạt” đất theo quy định tại Điều 158 về “Quyền sở hữu”, Bộ luật Dân sự năm 2015. Mọi pháp nhân, cá nhân và nhóm cá nhân (tổ chức phi pháp nhân) chỉ có một trong 3 quyền, đó là quyền sử dụng đất, vì không có bất kỳ quy định nào đề cập đến “quyền chiếm hữu” và “quyền định đoạt”. Thế nhưng rồi các chủ thể sử dụng đất lại tiếp tục có đủ 3 quyền gồm “quyền chiếm hữu”, “quyền sử dụng” và “quyền định đoạt” đối với “quyền sử dụng đất” như một loại tài sản, một loại hàng hóa đặc biệt nên mới có cơ sở pháp lý phát sinh đầy đủ các quyền như đối với chủ sở hữu là quyền bán (đấu giá) hoặc chuyển nhượng, cho mượn, cho thuê, chuyển đổi (trao đổi), góp vốn, tặng cho, thế chấp, thừa kế… quyền sử dụng đất. Dự luật không sai khi khẳng định “quyền sử dụng đất” không phải là “quyền sở hữu”, nhưng nếu đi sâu vào cụ thể từng quyền và từng điều luật thì lại bộc lộ sự chưa đầy đủ và chưa đi đến tận cùng vấn đề nên dẫn đến những vướng mắc, bất cập cần phải xử lý.

Về nguyên tắc, chỉ Nhà nước là đại diện chủ sở hữu thì mới được bán đất (hay bán quyền sử dụng đất), tức là bán tài sản dưới hình thức đấu giá. Vì vậy, việc đấu giá đất được quy định tại các điều 4, 14, 24, 30, 65, 78, 85, 115, 116, 125, 126, 128, 134, 150, 154, 155… của dự luật. Điều này không mâu thuẫn gì với việc luật cho phép pháp nhân, cá nhân và nhóm cá nhân (tổ chức phi pháp nhân) được quyền chuyển nhượng “đất”, thay vì chuyển nhượng “quyền sử dụng đất”. Tương tự, nhiều quy định khác của luật lại vẫn cho phép người sử dụng đất được bán đấu giá quyền sử dụng đất mà thực chất là bán đất. Ví dụ, theo quy định tại khoản 2, Điều 5 về “Giải thích từ ngữ”, Luật Đấu giá tài sản năm 2016 thì “đấu giá” là một hình thức bán tài sản. Khoản 1, Điều 4 về “Tài sản đấu giá” của luật này quy định, các tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá, bao gồm nhiều loại, trong đó có “tài sản là quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai” hay “tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm”. Tức là không chỉ Nhà nước bán đất hay quyền sử dụng đất mà pháp nhân, cá nhân và nhóm cá nhân (tổ chức phi pháp nhân) cũng có thể bán đất hay quyền sử dụng đất (đấu giá). Điểm a, khoản 1, Điều 303 về “Phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp”, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định, bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp là “bán đấu giá tài sản”, mà đất, hay quyền sử dụng đất là một loại tài sản thế chấp rất phổ biến. Không có quyền sở hữu tài sản thì chuyển nhượng còn không được phép, chứ đâu được quyền bán quyền sử dụng đất?

Khoản 1, Điều 295 về “Tài sản bảo đảm”, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định điều kiện đầu tiên của việc thế chấp là “tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm”. Như vậy, đất đai không thuộc sở hữu của người sử dụng đất nên không phải là tài sản bảo đảm và đương nhiên là không được phép thế chấp. Luật Đất đai năm 2013 hiện hành cũng như dự luật cũng chỉ cho phép thế chấp quyền sử dụng đất chứ không được thế chấp đất. Tuy nhiên, quyền sử dụng đất, muốn được thế chấp với tư cách là một loại tài sản thì chính Bộ luật Dân sự đã quy định là phải thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp. Trong khi đó, luật lại không hề có quy định cho pháp nhân, cá nhân và nhóm cá nhân (tổ chức phi pháp nhân) có quyền sở hữu quyền đối với đất cũng như quyền sử dụng đất.

Do vậy, để tránh phức tạp vấn đề thì Luật Đất đai hoàn toàn có thể cho phép người sử dụng đất có các quyền của chủ sở hữu (mà cơ sở pháp lý cao nhất theo Hiến pháp là sở hữu toàn dân), có quyền chuyển nhượng, tặng cho, trao đổi, để lại thừa kế, từ bỏ… với chính thửa đất mà không cần phải quy định đường vòng sang quyền sử dụng đất.

Phân biệt giữa chủ thể “cá nhân, pháp nhân” và “tổ chức” trong Luật Đất đai

Cần phải xác định lại trong cả hệ thống pháp luật, trước hết là trong dự luật này, chủ thể quan hệ dân sự chỉ có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Người sử dụng đất không thể là “tổ chức”, vì đó là khái niệm mang nặng tính xã hội, đời sống, khái niệm không chặt chẽ, rõ ràng, chính xác về pháp lý (thậm chí là phi pháp lý), nhất là trong mối quan hệ giao dịch, hợp đồng liên quan đến quyền, nghĩa vụ (trách nhiệm) pháp lý.

Tổ chức nếu có tư cách pháp nhân thì phải giao dịch với tư cách pháp nhân, nếu tổ chức không có tư cách pháp nhân thì phải được sự ủy quyền của pháp nhân hoặc phải giao dịch với tư cách một cá nhân (như doanh nghiệp tư nhân hay hộ gia đình chỉ có 1 người) hoặc với tư cách một số cá nhân (như tổ hợp tác hay hộ gia đình có từ 2 cá nhân trở lên). Trong lúc hệ thống pháp luật còn chưa được sửa đổi theo hướng thống nhất, chuẩn xác, gần như tất cả các đạo luật còn chưa phân biệt rõ ràng về quyền, nghĩa vụ giữa tổ chức là pháp nhân và tổ chức không có tư cách pháp nhân, thì Luật Đất đai cần phải đóng vai trò tiên phong trong việc xác định lại chủ thể quyền sở hữu, quyền sử dụng và giao dịch đất đai. Vì đây là đạo luật quan trọng nhất trên thực tế mang tính nền tảng xác định chủ thể trên “sổ đỏ”, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng khác và những giao dịch tài sản lớn, bao trùm, phổ biến nhất của cả trăm triệu người dân và pháp nhân (trong đó có Nhà nước). Một trong những cách thức lựa chọn xử lý vấn đề này là có thể sửa cụm từ “tổ chức, cá nhân, chủ thể khác” thành cụm từ “pháp nhân, cá nhân và nhóm cá nhân (tổ chức phi pháp nhân)”.

Doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác hay cộng đồng dân cư mà dự luật đang gọi là tổ chức, bản chất pháp lý không phải là pháp nhân mà là một hoặc một nhóm cá nhân (xác định cụ thể hay tương đối).

Do đó, cần xác định chủ thể quan hệ pháp luật một cách cụ thể, chính xác, đơn giản và rõ ràng rằng, đó là cá nhân hay pháp nhân và là chủ thể sử dụng “đất” chứ không phải là chủ thể sử dụng “quyền sử dụng đất”, hay là người sử dụng “đất” chứ không phải là người sử dụng “quyền sử dụng đất”. Vì nếu nói là các chủ thể chỉ có quyền sử dụng “quyền sử dụng đất” thì sẽ không có bất cứ ai khác là chủ thể có quyền sử dụng chính tài sản là “đất”. Vì vậy, nên chọn cách nói không vi Hiến, không sai bản chất pháp lý và đơn giản nhất như “người sử dụng ô tô” thay vì phải nói “người sử dụng quyền sử dụng ô tô”. (còn nữa)

Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI

————–

Quân đội Nhân Dân (Pháp luật) 28-3-2023:

https://www.qdnd.vn/phap-luat/cac-van-de/bai-2-quyen-cua-cong-dan-doi-voi-dat-dai-trong-moi-quan-he-voi-quyen-so-huu-toan-dan-723226

(2.202) #datdai #QĐND #ANVI 

Bài 2 trong loạt 3 bài: Khơi thông nguồn lực đất đai – Nhìn từ góc độ pháp lý.

Bài viết 

318. Quản lý thị trường vàng: 'Chữ Tín' của...

Quản lý thị trường vàng: 'Chữ Tín' của thể chế phải quý hơn vàng. (NĐT) -...

Trích dẫn 

4.303. Hiện thực hóa tăng trưởng cao, năng lượng...

Hiện thực hóa tăng trưởng cao, năng lượng phải đi trước một bước. (TT)...

Bình luận 

460. Bình luận về cơ sở pháp lý xử phạt sản xuất...

Bình luận về cơ sở pháp lý xử phạt sản xuất nội dung trên mạng...

Phỏng vấn 

4733. “Phí 6.600 đồng/tháng trên VETC, ePass là khoản...

“Phí 6.600 đồng/tháng trên VETC, ePass là khoản phí chồng lên phí”. (DT) – Bình luận về vấn đề này, Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), cho rằng nếu việc thu phí hoàn toàn do Nhà nước ấn định hoặc đã có sự thỏa thuận với khách hàng thì không có gì bàn cãi. Tuy nhiên, theo luật sư, trường hợp này có nhiều điểm cần được làm rõ bởi người dân gần như buộc phải tham gia hệ thống thanh toán phục vụ thu phí không dừng. "Việc thu phí này gắn liền với việc thu phí giao thông, tuy không phải là "bắt" nhưng lại "buộc" gần như tất cả phải tham gia mà không còn sự lựa chọn nào khác, nhất là cách duy nhất để đi qua rất nhiều trạm thu phí hiện nay là phải thông qua tài khoản giao thông", luật sư nêu quan điểm. Theo ông, việc bất ngờ thông báo thu phí duy trì tài khoản hàng tháng khiến dư luận có quyền đặt câu hỏi là dựa trên cơ sở pháp lý nào? Chỉ thấy bất thình lình thông báo thu phí định kỳ hàng tháng, không theo quyết định của cơ quan nhà nước, cũng chẳng theo thỏa thuận thì đó là sự áp đặt, đánh úp khách hàng. Do đó, Luật sư Trương Thanh Đức cho rằng Chính phủ và bộ quản lý cần vào cuộc xem xét việc thu phí này có được phép thực hiện hay không và mức thu có hợp lý không? "Đây không phải là một dịch vụ thông thường, mà là gắn liền với khoản phí giao thông phải nộp theo quy định cụ thể của pháp luật, người nộp không có nhiều lựa chọn thay thế và hai doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có "vị trí thống lĩnh thị trường" cũng không cứ muốn là được", luật sư nói.   Nghịch lý “xe không chạy vẫn trả phí” Luật sư Trương Thanh Đức, cho rằng các đơn vị vận hành hệ thống thu phí không dừng hiện đã có nhiều nguồn thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ và đang có nhiều lợi thế, nhất là quy mô nền kinh tế, số lượng ô tô, số lượt nộp phí và số km lăn bánh liên tục gia tăng. Với công nghệ và thực tế như hiện nay, có thể so sánh với hàng tỷ giao dịch chuyển tiền hầu hết được miễn phí mà ngân hàng vẫn có lợi. "Sử dụng đường đã nộp đủ tiền dịch vụ, giờ lại thu thêm tiền duy trì tài khoản nhiều như vậy, nhân với vài triệu tài khoản thì tự dưng kiếm được số tiền khổng lồ. Đặc biệt, xe ít chạy, thậm chí cả năm không chạy, thì không phải nộp đồng phí giao thông nào, nhưng vẫn phải nộp phí duy trì tài khoản, kể cả trong tài khoản không có hay có nhiều tiền", luật sư nêu quan điểm. Theo luật sư Đức, kể cả đã có quy định pháp luật cho thu thì cũng phải xem xét điều chỉnh, còn nếu chưa có phải lập tức ban hành quy định cho làm hay yêu cầu cấm thu, chứ không thể bất thình lình đưa ra thông báo thu phí như vậy. "Nếu hôm nay được quyền làm vậy, thì liệu năm sau có được quyền tăng phí lên gấp đôi, gấp ba không?", luật sư đặt vấn đề. Nhân viên hỗ trợ tài xế dán thẻ ETC (Ảnh: Hoàng Giám). Minh họa sự khác biệt, luật sư Đức đưa ra ví dụ, nếu hàng phở ở trạm dừng nghỉ trên tuyến đường thu phí tăng giá lên gấp đôi, thì khách hàng có quyền lựa chọn ăn mỳ hay nhịn, nhưng khoản phí này dù tăng bao nhiêu, thì xe qua trạm thu phí cũng buộc phải cắn răng chịu đựng. "Nếu hàng phở giở trò thu thêm phí chuyển khoản thì thực khách có thể trả tiền mặt, còn phương tiện qua trạm thu phí không dừng, thì chỉ có cách duy nhất thanh toán qua tài khoản giao thông", luật sư Đức so sánh. Theo luật sư, tài khoản giao thông liên quan đến tài khoản ví điện tử hay ngân hàng gì đó trong trường hợp này là phương tiện, là cách thức tổ chức để phục vụ cho việc thu phí giao thông bắt buộc, chứ không phải dịch vụ giá trị gia tăng, chẳng phải để khách hàng tự do tiêu sài vào việc khác mà phải nộp phí duy trì tài khoản. Vì vậy, hoặc là Nhà nước chịu trách nhiệm, hoặc là các bên liên quan đến việc bán dịch vụ sử dụng cầu đường, hoặc nhà nước quy định cộng thêm vào phí giao thông (tăng phí để phân bổ) thì mới đúng đắn, đơn giản, hợp lý, công bằng, sòng phẳng, rõ ràng. Đặc biệt trong bối cảnh chi phí vận tải của chúng ta rất cao, người dân và doanh nghiệp ít có lựa chọn đường miễn phí, đã phải nộp phí giao thông rất nhiều thì càng cần phải cân nhắc điều tiết. "Người ta buộc phải trả phí cho tuyến đường bộ vận tải nhộn nhịp nhất là Hà Nội - Hải Phòng, vì không có đường song hành miễn phí, nay lại phải chi thêm từ 79.200 đến 792.000 đồng mỗi năm? Nếu chấp nhận cho thu thêm khoản phí này, thì cũng cần xem xét xử lý trọn gói, là một cấu phần trong khoản phí giao thông phải nộp cho nhà đầu tư, do Nhà nước không đủ nguồn lực đảm bảo hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng, văn hóa xã hội và đi lại của nhân dân", luật sư nói.

Tám luật 

334. ANVI xì luật hay Lạm bàn tám luật.

(ANVI) - “Lạm bàn tám luật” hay còn gọi là “ANVI xì luật” Chuyên...

Số lượt truy cập: 323,670