Huy động vàng trong dân: Mở đường nguồn lực nhưng tránh “bẫy” vàng hóa.
(KTTC) – Hạn chế tối đa tâm lý găm giữ và tâm lý đầu cơ vàng là chỉ đạo mới nhất của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng trong buổi làm việc với Ngân hàng Nhà nước ngày 29/4/2026. Điều này tiếp tục đặt ra bài toán không chỉ là huy động vàng trong dân bằng cách nào mà phải là thiết kế cơ chế nào đủ minh bạch, an toàn, tránh lặp lại tình trạng “vàng hóa” nền kinh tế.
![]() |
| Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu phải hạn chế tối đa tâm lý găm giữ và tâm lý đầu cơ vàng. Ảnh: VGP |
Hạn chế “vàng hóa”, chuyển dòng tiền sang sản xuất kinh doanh
Ngày 29/4/2026, phát biểu chỉ đạo tại cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước về tình hình hoạt động ngân hàng, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại Thông báo số 211-TB/VPTW ngày 30/5/2025 về cơ chế, chính sách quản lý hiệu quả thị trường vàng, có lộ trình phù hợp với tình hình thực tế, yêu cầu chính sách qua các thời kỳ.
Thủ tướng cũng nêu rõ, vàng là mặt hàng, tài sản người dân được quyền nắm giữ nhưng Nhà nước không khuyến khích, vì không tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế, do đó chúng ta phải hạn chế tối đa tâm lý găm giữ và tâm lý đầu cơ.
“Bài toán cuối cùng là, nếu chúng ta có nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc, hệ thống pháp lý công khai, minh bạch, dễ dự báo, người dân, doanh nghiệp yên tâm thì họ sẽ giảm nắm giữ những tài sản đó, mà yên tâm bỏ tiền ra sản xuất, kinh doanh hoặc ít nhất có thể tăng lượng tiền gửi cho hệ thống ngân hàng, từ đó chúng ta sẽ huy động được nguồn lực cho phát triển”, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh.
Chỉ đạo này của Thủ tướng cũng là vấn đề đang được quan tâm trong bối cảnh thị trường vàng đang cần những giải pháp để ổn định. Cách đây không lâu, trong văn bản kiến nghị gửi lên Thủ tướng Chính phủ, Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam cho rằng, nhu cầu vàng nguyên liệu cho sản xuất vàng trang sức khoảng 50 tấn/năm, tương đương khoảng 5 tỷ USD. Nếu một nửa lượng này phục vụ xuất khẩu, ngành vàng trang sức có thể mang về khoảng 3,5-4 tỷ USD mỗi năm. Theo Hiệp hội, đây là điểm khác biệt của vàng trang sức so với vàng tích trữ, bởi sản phẩm chế tác có đóng góp của lao động, kỹ xảo, công nghệ, tạo giá trị gia tăng và tái tạo nguồn ngoại tệ cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, vấn đề đang gây tranh cãi nhất là đề xuất cho phép doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh vàng trang sức được vay vàng trong dân với lãi suất thỏa thuận để làm nguyên liệu đầu vào. Theo Hiệp hội, hiện chưa có quy định cụ thể về việc mua, huy động nguồn vàng trong nước để phục vụ sản xuất, khiến doanh nghiệp gặp rủi ro pháp lý.
Vì vậy, Hiệp hội đề nghị Chính phủ ban hành cơ chế rõ ràng về huy động, thu mua nguồn vàng trong dân, đồng thời phân định cụ thể các đối tượng giao dịch như cá nhân mua bán vàng không mang tính kinh doanh, hộ kinh doanh vàng, cá nhân kinh doanh vàng để thống nhất quản lý về hóa đơn, thuế, thanh toán và phòng chống rửa tiền.
| Theo Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam, ngành vàng trang sức xuất khẩu có thể mang về khoảng 3,5-4 tỷ USD mỗi năm. Ảnh minh hoạ: HD |
Nhưng nhận xét về đề xuất này, chuyên gia kinh tế TS. Cấn Văn Lực cho biết, vàng là mặt hàng kinh doanh có điều kiện, liên quan trực tiếp đến ngoại hối và dự trữ quốc gia, nên cần tiếp tục được quản lý chặt chẽ. Kinh nghiệm trước đây cho thấy chính sách vay mượn bằng vàng từng khiến nền kinh tế bị “vàng hóa”, gây nhiều hệ lụy cho thị trường tài chính. Việc chấm dứt tình trạng này là một kết quả quan trọng của quá trình quản lý thị trường vàng trong nhiều năm qua.
Theo TS. Cấn Văn Lực, mục tiêu huy động vàng trong dân không nhất thiết phải hiểu là đưa vàng vật chất trực tiếp vào quan hệ vay – cho vay. Cách căn cơ hơn là duy trì tăng trưởng kinh tế cao, ổn định kinh tế vĩ mô, gia tăng niềm tin của người dân và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Khi thị trường minh bạch hơn, có nhiều kênh đầu tư hấp dẫn hơn, người dân sẽ giảm xu hướng tích trữ vàng vật chất và chuyển nguồn lực vào sản xuất, kinh doanh.
Cũng về vấn đề này, Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) cho biết, việc doanh nghiệp vay vàng trong dân về bản chất là quan hệ dân sự và pháp luật không cấm, ngoại trừ lĩnh vực ngân hàng do rủi ro cao nên bị hạn chế. Tuy nhiên, hoạt động này tiềm ẩn rủi ro rất lớn, đặc biệt là biến động giá vàng và khả năng mất cân đối nguồn cung, khiến bên vay có thể không đủ khả năng hoàn trả khi giá tăng mạnh.
Theo ông Đức, khác với vay tiền, vay vàng không chịu trần lãi suất nên các bên có thể thỏa thuận tự do, càng làm gia tăng rủi ro khi cộng thêm biến động giá. Do đó, Luật sư Trương Thanh Đức cho rằng không cần thiết ban hành cơ chế riêng cho hoạt động này, tránh tạo hiểu nhầm là được “bảo đảm” bởi Nhà nước. Thay vào đó, cần khuyến khích người dân chuyển hóa vàng thành vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh hoặc gửi vào hệ thống tài chính. Đồng thời, vàng nên được sử dụng linh hoạt trong các giao dịch bảo đảm như cầm cố, ký cược thay vì bị tích trữ, gây lãng phí nguồn lực.
Mở cơ chế nhưng phải kiểm soát rủi ro
Nhưng ở một góc nhìn khác, chuyên gia tài chính – ngân hàng TS. Nguyễn Trí Hiếu nhận định, đề xuất huy động vàng trong dân có cơ sở, bởi lượng vàng người dân nắm giữ ước khoảng 400-500 tấn là nguồn lực lớn. Nên nếu có cơ chế phù hợp, nguồn vàng này có thể hỗ trợ ngành chế tác vàng trang sức, đáp ứng nhu cầu trong nước, phục vụ xuất khẩu và giảm nhu cầu nhập khẩu vàng nguyên liệu.
Dù vậy, TS Nguyễn Trí Hiếu cũng cảnh báo, rủi ro lớn nhất là nguy cơ quay lại tình trạng “vàng hóa”, doanh nghiệp kinh doanh vàng còn đối mặt với rủi ro kỳ hạn, rủi ro thanh khoản và rủi ro giá vàng. Đặc biệt, nếu thiếu giám sát, hoạt động này có thể biến tướng thành huy động vàng trá hình và gây bất ổn cho nền kinh tế.
Do đó, theo TS Nguyễn Trí Hiếu, nếu triển khai cơ chế cho doanh nghiệp vay vàng trong dân, cần có giai đoạn thử nghiệm theo mô hình sandbox, chỉ lựa chọn một số doanh nghiệp lớn, minh bạch, có năng lực tài chính tham gia. Đồng thời, doanh nghiệp phải có công cụ phòng ngừa rủi ro giá vàng, có thể cần bảo lãnh ngân hàng và toàn bộ hoạt động phải chịu sự giám sát chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước.
Một hướng đi khác được TS Nguyễn Trí Hiếu nhấn mạnh là phát hành chứng chỉ vàng, đồng thời cần nghiên cứu sàn giao dịch vàng, nơi giao dịch vàng tài khoản, lưu ký tập trung và chuẩn hóa sản phẩm vàng. Khi thị trường được chuẩn hóa về chất lượng, loại vàng, nơi lưu ký và cơ chế giao dịch, nguồn vàng trong dân mới có thể được đưa vào nền kinh tế một cách an toàn.
Thực tế cũng cho thấy, minh bạch hóa thị trường vàng là yêu cầu cấp thiết. Gần đây, một số doanh nghiệp vàng bị Thanh tra Ngân hàng Nhà nước xử phạt do vi phạm quy định phòng chống rửa tiền, như báo cáo giao dịch giá trị lớn không đúng thời hạn, không thu thập đầy đủ thông tin khách hàng, không phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro, không lưu trữ hồ sơ nhận biết khách hàng.
Đại diện một số doanh nghiệp kinh doanh vàng cho rằng, việc xác minh nguồn gốc tài sản của cá nhân bán vàng là thách thức lớn khi thiếu cơ sở dữ liệu quốc gia đồng bộ. Doanh nghiệp bị yêu cầu thu thập thông tin nghề nghiệp, thu nhập, đối chiếu khách hàng nhưng lại thiếu cơ chế hỗ trợ thực thi.
Từ thực tế này, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở thêm kênh huy động vàng, mà phải đồng thời xây dựng hạ tầng quản lý hiện đại. Hệ thống định danh khách hàng điện tử kết nối cơ sở dữ liệu dân cư, cơ chế báo cáo giao dịch lớn, chuẩn hóa hóa đơn, thuế, thanh toán và lưu ký vàng là các điều kiện cần thiết để thị trường vận hành minh bạch, giúp vàng có thể dần rời khỏi trạng thái tài sản “nằm yên” để trở thành nguồn lực phục vụ tăng trưởng.
Hương Dịu
————-
Kinh tế – Tài chính (Ngân hàng) ngày 29-4-2026:
(228/1.676)


