Siêu dự án trục cảnh quan sông Hồng: Những chìa khóa quyết định thành bại (Bài cuối).
(DV) – Không chỉ là bài toán quy hoạch hay chỉnh trang đô thị, siêu dự án trục cảnh quan sông Hồng còn đặt ra những thách thức lớn về chống ngập, tái định cư, sinh kế và niềm tin xã hội – những yếu tố được xem là “chìa khóa” quyết định thành bại của dự án.
LTS: Hai bên bờ sông Hồng dần trở thành khoảng trống phát triển với những khu dân cư tự phát, bãi tập kết phế liệu, bãi xe tạm, nhà tạm lấn chiếm hành lang thoát lũ và những vùng đất vàng bị bỏ hoang hoặc khai thác manh mún.
Đứng trước yêu cầu vươn mình của Thủ đô trong kỷ nguyên mới, HĐND TP. Hà Nội mới đây đã thông qua chủ trương đầu tư dự án trục đại lộ cảnh quan sông Hồng với quy mô hơn 11.418ha, đi qua 16 xã, phường, có tổng vốn đầu tư khoảng 736.963 tỷ đồng.
Dự án được kỳ vọng không chỉ là một tuyến giao thông hay chỉnh trang đô thị đơn thuần, mà là bước ngoặt để tái định hình cấu trúc phát triển của Thủ đô trong nhiều thập kỷ tới.Việc Hà Nội “đặt cược” vào siêu dự án sông Hồng trị giá hơn 736.000 tỷ đồng để tái thiết không gian đô thị, giải bài toán ngập lụt, ô nhiễm và mở ra động lực tăng trưởng mới.
Nhưng đằng sau siêu dự án bên dòng sông lịch sử này là bài toán khó về đồng thuận xã hội, trị thủy và quy hoạch bền vững.Nhằm đưa ra cái nhìn đa chiều về dự án này, Báo Dân Việt thực hiện loạt bài “Siêu dự án trục cảnh quan sông Hồng: Giải bài toán đồng thuận xã hội” để làm rõ hơn tính cấp thiết của dự án trục đại lộ cảnh quan sông Hồng trong bối cảnh hiện nay cũng như tâm tư, tình cảm và mong muốn của người dân Thủ đô, cả nước và thế giới về một biểu tượng kinh tế của Hà Nội và quốc gia.

Với định hướng lấy sông Hồng làm trục không gian trung tâm, Hà Nội đang bước vào kỷ nguyên bùng nổ hạ tầng giao thông chưa từng có. Ảnh: Phạm Hưng
Bài học thành công – thất bại nhìn từ kinh nghiệm quốc tế
Mở đầu câu chuyện với PV Dân Việt về những “chiến dịch” cải tạo lòng sông lớn, TS.Hồ Sỹ Ngọc (Viện Kinh tế – Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) nhắc ngay tới thất bại của Dự án cải tạo sông Yamuna tại Delhi, Ấn Độ.
Ông cho biết, dù cùng hướng tới mục tiêu xây dựng trục cảnh quan và làm sạch dòng sông, dự án này đã rơi vào bế tắc do thiếu sự phối hợp giữa chính sách trị thủy với quản lý đô thị. Việc di dời hàng chục nghìn hộ dân mà không có phương án sinh kế phù hợp cũng dẫn tới xung đột kéo dài.
Theo TS.Hồ Sỹ Ngọc, thất bại nằm ở việc coi nhẹ yếu tố “lấy dân làm gốc” và thiếu chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật để kiểm soát ô nhiễm, khiến dòng sông tiếp tục mắc kẹt trong vòng xoáy phát triển tự phát và ô nhiễm nghiêm trọng.
TS.Hồ Sỹ Ngọc, Viện Kinh tế – Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. (Ảnh: NVCC)
Ngược lại, Dự án phục hồi sông Hàn tại Seoul, Hàn Quốc lại được xem là hình mẫu thành công nhờ cách tiếp cận tích hợp. Seoul kết hợp chặt chẽ giữa hạ tầng giao thông đa tầng với không gian công cộng xanh quy mô lớn, xây dựng hệ thống đê kết hợp đường cao tốc cùng 12 công viên ven sông, biến dòng sông từ ranh giới chia cắt thành trục kinh tế – du lịch trọng điểm.
“Kết quả này đạt được nhờ sự nhất quán trong quy hoạch dài hạn và năng lực tài chính mạnh mẽ để bồi thường, tái định cư bền vững cho người dân vùng ven”, TS.Hồ Sỹ Ngọc phân tích.
Từ những dẫn chứng trên, nhìn về siêu dự án của Hà Nội, TS.Hồ Sỹ Ngọc cho rằng, điều quyết định thành bại chính là tầm nhìn tích hợp.
Theo ông, Dự án trục cảnh quan sông Hồng sẽ thành công nếu không chỉ coi đây là một con đường giao thông, mà phải là một hệ sinh thái bao gồm trị thủy an toàn (đê bối, đập dâng) tạo nên hệ thống giao thông hiện đại và trở thành không gian văn hóa. Trong đó, mắt xích quan trọng nhất là người dân sau di dời phục vụ mục đích xây dựng dự án phải được bảo đảm sinh kế lâu dài.
Với GS.Hoàng Xuân Cơ (thuộc Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam – VIASEE), ông lại trăn trở về một trải nghiệm từ vài chục năm trước tại châu Âu nhưng vẫn đầy tính thời sự cho đến lúc này.
Vào năm 1991, khi theo học tại Cộng hoà Liên bang Đức, GS.Cơ đã chứng kiến một khu đô thị được xây dựng để giãn dân nội đô Dresden (chỉ cách trung tâm khoảng 15-20km). Thế nhưng, 10 năm sau khi hoàn thành, người dân vẫn không đến ở thực sự.
Ông cho rằng, dù đầy đủ trường học, bệnh viện, siêu thị và hạ tầng thiết yếu, khu đô thị này vẫn thất bại vì thiếu cơ hội việc làm, thiếu “không khí đô thị” và nhịp sống quen thuộc. Chính điều đó tạo ra “kháng thể” với quyết định rời bỏ vùng lõi của người dân.
Đây là những bài học đáng suy ngẫm đối với Dự án trục cảnh quan sông Hồng – dự án có thể làm thay đổi nơi ở, sinh hoạt và sinh kế của hàng trăm nghìn hộ dân.
Theo giới chuyên gia, cốt lõi của mọi quy hoạch đô thị không chỉ là cải thiện môi trường hay hạ tầng, mà còn phải nâng cao chất lượng sống và cơ hội phát triển kinh tế cho người dân. Nếu thiếu đi sự hài hòa này, tỷ lệ thành công cũng vì vậy sụt giảm.
TS. Hoàng Xuân Cơ, Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam (VIASEE).
Những bài toán sát sườn từ thực tế sông Hồng
Thành công hay thất bại của một quy hoạch cần thời gian kiểm chứng. Tuy nhiên, theo GS.Cơ, nếu tâm lý thấp thỏm, thiếu niềm tin kéo dài thì đó là điều không đáng có.
Theo ông, một cuộc khảo sát chỉ với những câu hỏi đơn giản như “Tin tưởng hoàn toàn”, “Tin tưởng nhưng còn lo ngại”, “Khó thực hiện” hay “Không tin thực hiện được”, cơ quan quản lý đã có thể nhìn thấy xu hướng đánh giá của xã hội đối với quy hoạch.
Kết quả điều tra cũng sẽ cho thấy người dân đang kỳ vọng, lo ngại hay hoài nghi điều gì. Đó là cơ sở để nhà quản lý điều chỉnh chính sách theo hướng thực tế hơn.
“Đứng gần” với người dân sẽ giúp nhà quản lý có thêm lăng kính thực tế để đánh giá khách quan tính ưu, nhược của quy hoạch. Từ đó, chỉnh sửa hoặc cải thiện trong các đề xuất sao cho phù hợp với ý nguyện của những người chịu ảnh hưởng trực tiếp từ tác động của quy hoạch.
TS. Hoàng Xuân Cơ, Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam (VIASEE).
Từ góc nhìn “gần dân” ấy, quay trở lại với dự án trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, bên cạnh mục tiêu diện mạo hiện đại, dự án sẽ đưa lại nhiều băn khoăn lớn như tái định cư, an toàn thoát lũ và bảo tồn làng nghề truyền thống (Bát Tràng, Nhật Tân, Văn Đức).
TS. Hồ Sỹ Ngọc thẳng thắn chỉ ra một trong những lo ngại lớn nhất là giá bồi thường tại thời điểm thu hồi đất có thể thấp hơn rất nhiều so với giá trị đất sau khi hình thành trục đại lộ cảnh quan. Người dân dễ có cảm giác mình nhường đất cho sự phát triển nhưng lại không được hưởng lợi trực tiếp từ giá trị gia tăng (thặng dư địa tô) mà dự án mang lại.
Cùng với đó là nỗi lo rất thực tế rằng, với khoản tiền bồi thường nhận được, liệu họ có đủ khả năng mua lại nhà ở khu vực lân cận hoặc tại nơi tái định cư trong bối cảnh giá bất động sản Hà Nội liên tục tăng cao?
Do đó, điều quan trọng nhất là cách chính quyền tạo dựng được sự đồng hành của người dân trong quá trình giải tỏa, đền bù và tái định cư.
Thế nhưng, bài toán của dự án không chỉ nằm ở sinh kế hay giá đất.
Ở góc độ kỹ thuật và hạ tầng, Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI đặt ra hàng loạt câu hỏi cốt lõi: “Quan trọng nhất bây giờ là chống ngập bằng cách nào? Nước có thể lên sát mép đê thì phía bên kia xây dựng ra sao? Hệ thống giao thông, vườn hoa, tiêu thoát nước xử lý thế nào? Nếu cuối cùng vẫn phải dựng một con đê lớn, cao chắn bên cạnh thì còn gì là trục cảnh quan nữa”.
Theo ông Đức, nếu những vấn đề nền tảng chưa được giải quyết mà mới dừng ở các mô hình đẹp mắt, dự án rất dễ rơi vào tình trạng “đẹp trên giấy nhưng thiếu thực tế”.
Giải pháp nào để “hài hòa”?
Bàn về giải pháp, để giải quyết bài toán nguồn lực khổng lồ cho giải phóng mặt bằng và tái định cư, TS.Hồ Sỹ Ngọc đề xuất cần chuyển từ cơ chế “đền bù – thu hồi” sang “hợp tác – chia sẻ lợi ích”.
Theo đó, điểm mấu chốt là cơ chế “vốn hóa quỹ đất”. Nhà nước thu hồi đất theo quy hoạch vùng phụ cận trục đại lộ để đấu giá quyền sử dụng đất, sử dụng phần địa tô chênh lệch sau đầu tư hạ tầng nhằm bù đắp chi phí bồi thường.
Ông cho rằng việc áp dụng bảng giá đất sát giá thị trường theo Luật Đất đai 2024 sẽ là “chìa khóa” tạo đồng thuận, giúp đẩy nhanh tiến độ và giảm chi phí cơ hội do chậm mặt bằng.
Về tái định cư, TS. Ngọc đề xuất ưu tiên mô hình “tái định cư tại chỗ gắn với an toàn lũ”. Việc xây dựng các cụm đô thị hiện đại, đa năng ngay tại các khu vực đất bãi đã được chỉnh trị và bảo vệ bởi hệ thống đê mới sẽ giúp giảm áp lực quỹ đất tái định cư ở các quận nội đô vốn đã cạn kiệt.
Nguồn lực xây dựng có thể huy động theo hình thức PPP, cho phép nhà đầu tư tham gia xây dựng nhà tái định cư để đổi lấy quyền phát triển các phân khu thương mại dọc đại lộ.
Ở khía cạnh sinh kế, giải pháp được đặt ra là “chuyển đổi sinh kế dựa trên kinh tế di sản”. Khi dự án định vị là trục cảnh quan – du lịch, người dân vùng bãi cần được đào tạo để chuyển từ nông nghiệp sang các ngành dịch vụ du lịch, quản lý công viên hay kinh tế đêm.
Thay vì chỉ hỗ trợ tiền mặt, Nhà nước có thể ưu tiên cho người dân thuê mặt bằng kinh doanh hoặc tham gia hưởng lợi từ các khu dịch vụ ven sông. Mục tiêu cuối cùng là để người dân trở thành những “chủ thể kinh tế” trực tiếp thụ hưởng và bảo vệ dự án, thay vì chỉ nhận khoản bồi thường một lần rồi mất đi sinh kế gắn với dòng sông.
Tóm lại, bài toán lớn nhất của trục cảnh quan sông Hồng có lẽ không nằm ở những bản phối cảnh đẹp mắt, mà ở khả năng dung hòa giữa phát triển và sinh kế, giữa trị thủy và đô thị hóa, giữa tầm nhìn quy hoạch với niềm tin của người dân. Đó mới là nền móng quyết định siêu dự án hơn 700.000 tỷ này có thể đi được bao xa trong thực tế.
TS. Hồ Sỹ Ngọc – Viện Kinh tế – Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
“Hồi sinh” những dòng sông bằng tầm nhìn tích hợp
Dự án trục đại lộ sông Hồng đóng vai trò là “quy hoạch tích hợp trung tâm”. Siêu dự án này chỉ thực sự khả thi khi giải quyết triệt để được nút thắt về Quy hoạch phòng chống lũ (thông qua hệ thống đập dâng và chỉnh trị dòng chảy) để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc xây dựng trên bãi sông. Khi khớp nối thành công với Quy hoạch Thủ đô đến năm 2050, Dự án sẽ trở thành động lực mạnh mẽ để “hồi sinh” các dòng sông khác như sông Nhuệ, sông Đáy, tạo nên một hệ sinh thái đô thị nước đồng bộ, hiện thực hóa tầm nhìn đưa sông Hồng trở thành trục cảnh quan xanh bền vững của Thủ đô.
TS. Hoàng Xuân Cơ, Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam (VIASEE)
Cần cơ sở dữ liệu và giám sát chủ đầu tư
Các quy hoạch lớn luôn kéo theo nhiều tác động môi trường từ giai đoạn xây dựng đến vận hành, chịu ảnh hưởng từ cả khu vực thượng nguồn và biến đổi khí hậu. Do đó, quá trình triển khai phải dựa trên hệ thống dữ liệu đầy đủ, đáng tin cậy từ địa chất, nước ngầm, địa hình cho đến dân số, việc làm. Hiện nay, chúng ta vẫn còn thiếu rất nhiều dữ liệu như vậy.
Mặt khác, với sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân như Liên danh Công ty cổ phần Địa ốc Đại Quang Minh, Công ty cổ phần Tập đoàn Trường Hải và Công ty cổ phần Tập đoàn Hòa Phát, cơ quan quản lý nhà nước cần có bộ phận giám sát đủ năng lực để phát hiện, ngăn chặn sai phạm kịp thời. Việc quản lý, giám sát chặt chẽ từ quá trình chọn nhà thầu, phương án thi công đến phê duyệt từng hạng mục là điều kiện tiên quyết để dự án không để lại những hệ lụy tiêu cực lớn khi đi vào vận hành.
Vũ Khoa
—————
Dân Việt (Kinh tế) ngày 20-5-2026:
(125/2.503)

