Bình luận về pháp luật kiểm soát an toàn thực phẩm
(Tham luận tại Diễn đàn “Ngăn chặn thực phẩm bẩn – Trách nhiệm và hành động”
Do Báo Công an Nhân dân tổ chức ngày 02-7-2026 tại Hà Nội)
“An toàn thực phẩm” là một trong những vấn đề quan trọng nhất từ trước đến nay, được đề cập đến trong 2.800 văn bản đang có hiệu lực của các cơ quan trung ương (chủ yếu là văn bản quy phạm pháp luật) cho đến ngày hôm nay. Bài này xin tóm lược một số quy định pháp luật về việc yêu cầu, việc cấm, việc xử lý và về giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm truy quyét, ngăn chặn tình trạng thực phẩm thiếu an toàn.
1. Một số yêu cầu của pháp luật về an toàn thực phẩm:
1.1. Luật An toàn thực phẩm năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2018 và 2025 gồm 72 điều, cùng với hàng chục nghị định, thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành đã quy định rất cụ thể, chi tiết về an toàn thực phầm, trong đó có quy định bảo đảm an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm[1].
1.2. Bên cạnh đó, có rất nhiều luật đề cập đến an toàn thực phẩm, như:
(1) Luật Chăn nuôi quy định một trong các nguyên tắc hoạt động chăn nuôi là “bảo đảm an toàn thực phẩm”[2].
(2) Luật Du lịch quy định cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch là phải đáp ứng một trong các điều kiện là “an toàn thực phẩm”[3].
(3) Luật Lâm nghiệp quy định cơ sở chế biến và hoạt động chế biến mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng phải tuân thủ quy định pháp luật về “an toàn thực phẩm”[4].
(4) Luật Phòng bệnh quy định một trong những yêu cầu phòng bệnh trong cơ sở giáo dục là “bảo đảm an toàn thực phẩm”[5].
(5) Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia quy định một trong các điều kiện sản xuất, kinh doanh, lưu hành rượu, bia là phải bảo đảm “an toàn thực phẩm”[6]; một trong các trách nhiệm của cơ sở kinh doanh rượu, bia là tuân thủ quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm; thu hồi và xử lý rượu, bia không bảo đảm an toàn thực phẩm do cơ sở mình sản xuất, mua bán[7].
(6) Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú quy định “Người bị tạm giữ, người bị tạm giam được bảo đảm an toàn thực phẩm trong ăn, uống”[8].
(7) Luật Thủy sản quy định một trong các nguyên tắc hoạt động thủy sản là “bảo đảm an toàn thực phẩm”[9].
(8) Luật Trồng trọt quy định một trong các nguyên tắc hoạt động trồng trọt là “bảo đảm an toàn thực phẩm”[10].
2. Một số quy định cấm trong lĩnh vực an toàn thực phẩm:
2.1. Luật An toàn thực phẩm quy định 13 nhóm hành vi, với khoảng 22 hành vi cụ thể bị nghiêm cấm trong lĩnh vực an toàn thực phẩm như sau[11]:
“Điều 5. Những hành vi bị cấm
- Sử dụng nguyên liệu không thuộc loại dùng cho thực phẩm để chế biến thực phẩm.
- Sử dụng nguyên liệu thực phẩm đã quá thời hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc không bảo đảm an toàn để sản xuất, chế biến thực phẩm.
- Sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm đã quá thời hạn sử dụng, ngoài danh mục được phép sử dụng hoặc trong danh mục được phép sử dụng nhưng vượt quá giới hạn cho phép; sử dụng hóa chất không rõ nguồn gốc, hóa chất bị cấm sử dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
- Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc chết không rõ nguyên nhân, bị tiêu hủy để sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
- Sản xuất, kinh doanh:
- a) Thực phẩm vi phạm quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa;
- b) Thực phẩm không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng;
- c) Thực phẩm bị biến chất;
- d) Thực phẩm có chứa chất độc hại hoặc nhiễm chất độc, tác nhân gây ô nhiễm vượt quá giới hạn cho phép;
đ) Thực phẩm có bao gói, đồ chứa đựng không bảo đảm an toàn hoặc bị vỡ, rách, biến dạng trong quá trình vận chuyển gây ô nhiễm thực phẩm;
- e) Thịt hoặc sản phẩm được chế biến từ thịt chưa qua kiểm tra thú y hoặc đã qua kiểm tra nhưng không đạt yêu cầu;
- g) Thực phẩm không được phép sản xuất, kinh doanh để phòng, chống dịch bệnh;
- h) Thực phẩm chưa được đăng ký bản công bố hợp quy tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp thực phẩm đó thuộc diện phải được đăng ký bản công bố hợp quy;
- i) Thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc quá thời hạn sử dụng.
- Sử dụng phương tiện gây ô nhiễm thực phẩm, phương tiện đã vận chuyển chất độc hại chưa được tẩy rửa sạch để vận chuyển nguyên liệu thực phẩm, thực phẩm.
- Cung cấp sai hoặc giả mạo kết quả kiểm nghiệm thực phẩm.
- Che dấu, làm sai lệch, xóa bỏ hiện trường, bằng chứng về sự cố an toàn thực phẩm hoặc các hành vi cố ý khác cản trở việc phát hiện, khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm.
- Người mắc bệnh truyền nhiễm tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
- Sản xuất, kinh doanh thực phẩm tại cơ sở không có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật.
- Quảng cáo thực phẩm sai sự thật, gây nhầm lẫn đối với người tiêu dùng.
- Đăng tải, công bố thông tin sai lệch về an toàn thực phẩm gây bức xúc cho xã hội hoặc thiệt hại cho sản xuất, kinh doanh.
- Sử dụng trái phép lòng đường, vỉa hè, hành lang, sân chung, lối đi chung, diện tích phụ chung để chế biến, sản xuất, kinh doanh thức ăn đường phố”.
2.2. Một số quy định cấm khác liên quan đến an toàn thực phẩm:
(1) Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa quy định nghiêm cấm việc dùng thực phẩm, dược phẩm không bảo đảm chất lượng hoặc đã hết hạn sử dụng làm từ thiện hoặc cho, tặng để sử dụng cho người[12].
(2) Luật Hoá chất quy định nghiêm cấm việc sử dụng hóa chất không rõ nguồn gốc, hóa chất không được phép sử dụng để sản xuất, kinh doanh và bảo quản thực phẩm[13].
(3) Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia quy định nghiêm cấm việc sử dụng nguyên liệu, phụ gia, chất hỗ trợ chế biến không được phép dùng trong thực phẩm; nguyên liệu, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm không bảo đảm chất lượng và không rõ nguồn gốc, xuất xứ để sản xuất, pha chế rượu, bia[14].
(4) Luật Thú y quy định nghiêm cấm việc giết mổ, thu hoạch động vật, sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm trước thời gian ngừng sử dụng thuốc thú y theo hướng dẫn sử dụng[15].
(5) Pháp lệnh Cảnh sát môi trường quy định nghiêm cấm việc trả thù, đe dọa trả thù, cản trở người làm chứng, người tố giác, người tố cáo hoặc người thân thích của họ trong việc tố giác, tố cáo, khai báo và xử lý vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm[16].
3. Một số quy định về xử lý vi phạm về an toàn thực phẩm
3.1. Luật An toàn thực phẩm quy định về việc xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm như sau:
“Điều 6. Xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm[17]
- Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường và khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật.
- Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm quy định của Luật này hoặc các quy định khác của pháp luật về an toàn thực phẩm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
- Mức phạt tiền đối với vi phạm hành chính quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; trường hợp áp dụng mức phạt cao nhất theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm thì mức phạt được áp dụng không quá 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm; tiền thu được do vi phạm mà có bị tịch thu theo quy định của pháp luật.
- Chính phủ quy định cụ thể về hành vi, hình thức và mức xử phạt các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn thực phẩm quy định tại Điều này”.
3.2. Nghị định số 115/2018/NĐ-CP “Quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm”, trong đó có:
(1) Quy định về hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
“1. Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu hình thức xử phạt chính là phạt tiền.
- Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung sau đây:
a) Tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm từ 01 tháng đến 06 tháng, Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm từ 01 tháng đến 24 tháng;
b) Đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 tháng đến 12 tháng được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 25 của Luật xử lý vi phạm hành chính;
c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn thực phẩm.
Ngoài hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:
a) Buộc tái xuất thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm;
b) Buộc tiêu hủy thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm, nguyên liệu, chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật; tài liệu, ấn phẩm thông tin, giáo dục truyền thông về an toàn thực phẩm có nội dung vi phạm; tang vật vi phạm; lô hàng thủy sản không bảo đảm an toàn thực phẩm;
c) Buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn;
d) Buộc thu hồi thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm vi phạm; tài liệu, ấn phẩm đã phát hành;
đ) Buộc thay đổi mục đích sử dụng hoặc tái chế thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm vi phạm;
e) Buộc thu hồi bản tự công bố sản phẩm;
g) Buộc tháo gỡ, tháo dỡ hoặc xóa quảng cáo vi phạm;
h) Buộc chịu mọi chi phí cho việc xử lý ngộ độc thực phẩm, khám, điều trị người bị ngộ độc thực phẩm;
i) Buộc ngừng việc sử dụng phương tiện vận chuyển;
k) Buộc hủy bỏ kết quả kiểm nghiệm, Thông báo kết quả xác nhận thực phẩm đạt yêu cầu nhập khẩu;
l) Buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật vi phạm trong trường hợp tang vật vi phạm không còn.
m) Buộc nộp lại giấy tờ, tài liệu đã bị sửa chữa, tẩy xóa”[18].
(2) Quy định về mức phạt tiền tối đa đối với vi phạm hành chính như sau[19]:
- Mức phạt tiền từ 01 – 200 triệu đồng hoặc;
- Phạt tiền từ 01 lần đến 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm
3.3. Bộ luật hình sự quy định về xử phạt hình sự, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm liên quan đến việc sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm thì có thề bị xử phạt tù từ 02 đến 20 năm tù hoặc tù chung thân. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20 – 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Pháp nhân thương mại phạm tội thì có thể bị bị phạt tiền từ 1 – 18 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm hoặc vĩnh viễn, ngoài ra còn có thể bị phạt tiền từ 100 – 300, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm[20].
4. Một số đề xuất kiến nghị:
4.1. Cần tổ chức một cơ quan chuyên trách làm đầu mối quản lý An toàn thực phẩm. Hiện nay Luật Đầu tư quy định “Kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Y tế”[21].
4.2. Tập trung kiểm soát theo chuỗi, truy xuất nguồn gốc và quản lý theo tiêu chuẩn hoá. Từ khâu trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt qau sản xuất, chế biến, bảo quản, cho đến vận chuyển lưu thông, phân phối. Tập trung vào việc kiểm soát, ngăn chặn, xử lý thực phẩm độc hại hơn là thực phẩm bẩn, kém chất lượng, hàm lượng.
4.3. Cần xem xét sửa đổi Luật An toàn thực phẩm và các quy định pháp luật liên quan theo hướng hợp lý và nghiêm khắc hơn, nhất là các chế tài xử lý hành chính và hình sự đối với vi phạm pháp luật về An toàn thực phẩm. Mức phạt tiền hình sự hiện nay tối đa 18 tỷ đối với pháp nhân phạm tội là ít nghiêm khắc hơn so với mức phạt hành chính có thể gấp đến 7 lần giá trị vi phạm. Bên cạnh việc giảm “hình sự hoá” về quan hệ kinh tế, nhưng vẫn phải tăng xử lý hình sự vi phạm về an toàn thực phẩm.
4.4. Tăng cường việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về An toàn thực phẩm. Cần xây dựng bộ Cẩm nang an toàn thực phẩm, trong đó tóm tắt các quy định liên quan của pháp luật và chỉ dẫn việc tuân thủ pháp luật và chia sẻ kinh nghiệm về an toàn thực phẩm cho người sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng cũng như các cơ quan chức năng. An toàn thực phẩm thuộc trách nhiệm của mấy chục triệu người hoạt động trong lĩnh vực này, nhưng nhiều khi vi phạm vì lúng túng không biết phải làm thế nào cho đúng.
4.5. Xây dựng App và trang web chuyên về An toàn thực phẩm để cung cấp thông tin và phản ánh tình trạng vi phạm. Phát huy vai trò và trách nhiệm to lớn, quan trọng của người dân, người tiêu dùng.
4.6. Một số biện pháp khác, như yêu cầu niêm yết Giấy chứng nhận cơ sở đủ điểu kiện an toàn thực phẩm tại các cửa hàng buôn bán thực phẩm. Tôi thấy Trung Quốc và một số nước khác đã làm mấy chục năm nay.
——————————-
Hà Nội ngày 02-7-2026
Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC)
(2.939)
—————————–
[1]. Khoản 1 Điều 3 về “Nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm”, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2018, 2025).
[2] Khoản 2, Điều 3 về “Nguyên tắc hoạt động chăn nuôi”, Luật Chăn nuôi năm 2018.
[3] Điểm b, khoản 1, Điều 49 về “Điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch”, Luật Du lịch năm 2017.
[4] Khoản 1, Điều 67 về “Chế biến mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng”, Luật Lâm nghiệp năm 2017, sửa đổi, bổ sung năm 2023, 2024 và 2025
[5] Điểm e, khoản 1, Điều 14 về “Phòng bệnh trong cơ sở giáo dục”, Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15 ngày 10-12-2025.
[6]. Điều 15 về “Quản lý kinh doanh rượu”, Điều 18 về “Bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm đối với rượu, bia”, Điều 20 về “Phòng ngừa và xử lý rượu, bia giả, không bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm; rượu, bia nhập lậu, không rõ nguồn gốc, xuất xứ”, Điều 32 về “Trách nhiệm của cơ sở kinh doanh rượu, bia”, Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 (sửa đổi, bổ sung năm 2024, 2025).
[7]. Điều 32 về “Trách nhiệm của cơ sở kinh doanh rượu, bia”, Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 (sửa đổi, bổ sung năm 2024, 2025).
[8] Khoản 3, Điều 27 về “Chế độ ăn, ở của người bị tạm giữ, người bị tạm giam”, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025.
[9] Khoản 3, Điều 5 về “Nguyên tắc hoạt động thủy sản”, Luật Thủy sản năm 2017, sửa đổi, bổ sung năm 2024 và 2025.
[10] Khoản 3, Điều 3 về “Nguyên tắc hoạt động trồng trọt”, Luật Trồng trọt năm 2018, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[11] Điều 5 về “Những hành vi bị cấm”, Luật An toàn thực phẩm năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2018 và 2025.
[12]. Điều 8 về “Những hành vi bị nghiêm cấm”, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 (sửa đổi, bổ sung năm 2018 và 2025).
[13]. Khoản 4, Điều 3 về “Các hành vi bị nghiêm cấm”, Luật Hóa chất năm 2025 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
[14]. Khoản 10, Điều 5 về “Các hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống tác hại của rượu, bia”, Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 (sửa đổi, bổ sung năm 2024, 2025).
[15] Điều 13 về “Những hành vi bị nghiêm cấm”, Luật Thú y năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[16].Khoản 2 Điều 6 về “Các hành vi bị nghiêm cấm”, Pháp lệnh Cảnh sát môi trường năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
[17] Điều 5 về “Những hành vi bị cấm”, Luật An toàn thực phẩm năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2018 và 2025.
[18] Điều 2 về “Hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả”, Nghị định số 115/2018/NĐ-CP ngày 04-9-2018 của Chính phủ “Quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm”, đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 124/2021/NĐ-CP ngày 28-12-2021.
[19] Điều 3 về “Quy định về mức phạt tiền tối đa, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính”; Điều 4 về “Vi phạm quy định về sử dụng nguyên liệu để sản xuất, chế biến, cung cấp thực phẩm”; Điều 5 về “Vi phạm quy định về sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm trong sản xuất, chế biến thực phẩm”; Điều 6 về “Vi phạm quy định về sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất, chế biến thực phẩm”; Điều 7 về “Vi phạm quy định về tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm”; Điều 8 về “Vi phạm quy định về sử dụng dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm”; Điều 9 về “Vi phạm quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh, bảo quản thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm”; Điều 10 về “Vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong vận chuyển thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm”; Điều 11 về “Vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm tươi sống có nguồn gốc thủy sản”; v.v…, Nghị định số 115/2018/NĐ-CP ngày 04-9-2018 của Chính phủ “Quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm”, đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 124/2021/NĐ-CP ngày 28-12-2021.
[20]. Điều 193 về “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm”, Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[21] Danh mục số 44, Phụ lục IV, Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, ban hành kèm theo Luật Đầu tư năm 2025.

