Hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong Kỷ nguyên mới.
(Báo cáo chuyên đề phục vụ xây dựng đề án “Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong Kỷ nguyên mới)
1. Một số đánh giá về thực trạng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng:
1.2. Một số kết quả đạt được:
1.1.1. Về mức độ thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng; mức độ đáp ứng nhu cầu điều chỉnh pháp luật ngân hàng:
Hệ thống pháp luật ngân hàng đã thể chế hóa một cách toàn diện, bám sát các Nghị quyết của Đảng (đặc biệt là Nghị quyết Đại hội XIII, Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới”[1]). Trọng tâm hướng tới của các Nghị quyết này là xây dựng hệ thống ngân hàng hiện đại, minh bạch và thích ứng với kinh tế thị trường định hướng XHCN, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống Ngân hàng. Pháp luật ngân hàng cũng đã đáp ứng được các yêu cầu thực tiễn, kịp thời điều chỉnh các vấn đề phát sinh như: xử lý nợ xấu, cơ cấu lại các tổ chức tín dụng yếu kém và thúc đẩy tài chính toàn diện.
Đồng thời, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ngân hàng đã đáp ứng được một cách cơ bản nhu cầu điều chỉnh pháp luật ngân hàng, đóng vai trò xương sống cho toàn bộ hoạt động của ngành Ngân hàng, từ Ngân hàng Nhà nước cho đến các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
1.1.2. Về tính đầy đủ, toàn diện và kịp thời:
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ngân hàng hiện nay được đánh giá là một trong những hệ thống pháp luật chuyên ngành lớn, phức tạp chi tiết và đầy đủ nhất. Hệ thống pháp luật ngân hàng tập trung vào 04 cấp độ văn bản chính và phổ biến có hiệu lực đến cuối tháng 5/2026 gồm 05 đạo luật[2], 01 pháp lệnh[3], khoảng 56 nghị định và 454 thông tư hướng dẫn chuyên sâu, giúp các tổ chức tín dụng có cơ sở pháp lý để triển khai nghiệp vụ cụ thể ngay lập tức. Ngân hàng Nhà nước là một trong những ngành ban hành nhiều thông tư; trong 10 năm, từ 2016 – 2025, đã ban hành 394 thông tư, bình quân 39,4 thông tư mỗi năm; đặc biệt chỉ trong 03 năm, từ 2023 và 2025, đã ban hành 149 thông tư (gấp 2,4 lần 3 năm liền trước đó); riêng 2 năm 2024 – 2025 đã ban hành 149 thông tư, chủ yếu để triển khai Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 (bình quân 10 năm trước đó, mỗi năm ban hành 33,5 thông tư); kế hoạch năm 2026, ban hành 18 thông tư[4], tuy nhiên trên thực tế đến ngày 19/5/2026 đã ban hành 22 thông tư.
Cho đến nay, pháp luật ngân hàng đã bao phủ toàn bộ các mảng hoạt động ngân hàng, từ hoạt động ngân hàng truyền thống (huy động, cho vay, thanh toán) đến các mảng ngân hàng hiện đại (ngân hàng số, ngoại hối, tiền di động – Mobile Money). Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 đã kịp thời sửa đổi, bổ sung các quy định về can thiệp sớm, xử lý tình huống cấp bách để ngăn chặn rủi ro hệ thống chưa có trong các Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 và 2010.
1.1.3. Về tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận và tương thích với các điều ước quốc tế mà Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên:
Các văn bản quy phạm pháp luật ngân hàng bảo đảm phù hợp với quy định của Hiến pháp và các đạo luật. Tuy nhiên, trong đa số các trường hợp, Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước không chỉ để quy định “Chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung khác được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định, nghị quyết của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ” và “Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình; phân cấp và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp” theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật[5], mà còn quy định mới nhiều nội dung cần thiết liên quan đến việc tổ chức và hoạt động của ngành Ngân hàng. Ví dụ, Luật không quy định trường hợp cấm cho vay, mà chỉ quy định 07 trường hợp không được cấp tín dụng, đồng thời không hề giao thẩm quyền quy định thêm cho Chính phủ và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước[6], nhưng riêng Thông tư về hoạt động cho vay (một nghiệp vụ cấp tín dụng) của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã quy định tới 10 trường hợp không được cho vay[7]. Trong một số trường hợp, pháp luật ngân hàng có sự khác nhau, thậm chí mâu thuẫn giữa pháp luật ngân hàng và các luật khác (như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư) là do quan điểm cần xử lý phù hợp với những đặc thù và yêu cầu thực tế. Ví dụ như doanh nghiệp là các tổ chức tín dụng chỉ có một người đại diện pháp luật và một con dấu, mà không có nhiều người đại diện theo pháp luật và nhiều con dấu như các doanh nghiệp nói chung. Các quy định của ngành Ngân hàng đồng thời liên quan đến các lĩnh vực khác như kế toán, kiểm toán, thuế cũng đã được chỉnh sửa để bảo đảm tính đồng bộ, giảm thiểu sự khác biệt không cần thiết và không đáng có.
Các quy định cũng được xây dựng dựa trên năng lực thực thi của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Ví dụ: Lộ trình áp dụng Basel II[8] được chia theo từng nhóm ngân hàng để bảo đảm tính thực tế, tránh gây sốc cho thị trường.
Dự thảo văn bản đều được lấy ý kiến rộng rãi và tiếp thu ý kiến từ các đối tượng chịu tác động. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cũng được số hóa và công khai kịp thời, đầy đủ, giúp cho việc tiếp cận, tra cứu thuận tiện.
Các luật, pháp lệnh trong lĩnh vực Ngân hàng như Luật Bảo hiểm tiền gửi, Luật Các công cụ chuyển nhượng, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền, Pháp lệnh Ngoại hối tương đối ổn định, với tuổi thọ trung bình trên 10 năm, tạo ra môi trường pháp lý khá ổn định.
Ngoài ra, pháp luật ngân hàng cũng đã từng bước tương thích với các cam kết và chuẩn mực quốc tế, như về việc phân loại nợ, phòng chống rửa tiền (AML), và tài trợ khủng bố (CFT).
1.2. Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân:
1.2.1. Về một số tồn tại, hạn chế:
Sự thiếu đồng bộ giữa pháp luật chuyên ngành và pháp luật chung: Đây là hạn chế điển hình nhất. Vẫn còn những khoảng vênh giữa Luật Các tổ chức tín dụng với Luật Đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Thi hành án dân sự trong việc xử lý tài sản bảo đảm. Điều này khiến quá trình thu hồi nợ của ngân hàng bị kéo dài tại hệ thống Tòa án và các cơ quan thi hành án.
Pháp luật ngân hàng còn chưa phủ kín các hoạt động kinh doanh mới như công nghệ tài chính (Fintech) vẫn còn đang trong quá trình thử nghiệm (Sandbox). Các lĩnh vực như cho vay ngang hàng (P2P), hay tài sản số vẫn chưa có khung pháp lý chính thức, gây rủi ro cho cả nhà đầu tư và khó khăn cho công tác quản lý nhà nước.
Dù qua mỗi phiên bản Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997, 2010, 2024 đều đã siết chặt hơn về tỷ lệ sở hữu chéo, về người có liên quan, nhưng vẫn còn mang tính hình thức, chưa đạt được hiệu quả thực chất, chưa giải quyết được tình trạng đầu tư núp bóng, nhờ người đứng tên hộ, dẫn đến khó khăn trong việc nhận diện, xử lý triệt để tình trạng rủi ro và thao túng ngân hàng.
Quy định về phá sản tổ chức tín dụng vẫn chưa phù hợp với thực tế, nên khó áp dụng, đến nay chưa áp dụng được cho tổ chức tín dụng nào.
1.2.2. Về một số nguyên nhân chủ quan:
Nguyên nhân đầu tiên xuất phát từ năng lực còn hạn chế của các cơ quan chức năng trước việc dự báo xu hướng phát triển tài chính trong trung và dài hạn. Công tác xây dựng pháp luật còn chưa đổi mới, tiến độ thường gấp gáp, quy trình lấy ý kiến và thẩm định văn bản còn mang tính hình thức, chưa huy động được sự tham gia của các doanh nghiệp và chuyên gia độc lập ngoài ngành (chủ yếu lấy ý kiến trong ngành).
Do yêu cầu đặc thù, cùng với tính chất nhạy cảm của hoạt động ngân hàng, người xây dựng chính sách, pháp luật trong lĩnh vực này thường e ngại rủi ro, nên có xu hướng xiết lại để bảo đảm an toàn, dẫn đến nhiều quy định mang tính thắt chặt hơn là kiến tạo phát triển, nhất là đối với các mô hình đổi mới, sáng tạo, mạo hiểm khó quản lý và chứa đựng nhiều rủi ro.
Với nguồn lực và năng lực hạn chế, việc ban hành nghị định, thông tư để hướng dẫn thực thi vẫn chậm so với hiệu lực của Luật. Đặc biệt là hai năm 2024 – 2025, do thay đổi Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 mới, nên đã buộc phải ban hành mới và sửa đổi, bổ sung một loạt thông tư cho phù hợp. Do đó, để chạy tiến độ, mấy ngày cuối mỗi năm nhiều thông tư thường được ban hành cấp tập, với nhiều văn bản có hiệu lực ngay. Ví dụ chỉ trong một ngày 31/12/2025, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành 24 thông tư, trong đó 7 văn bản có hiệu lực ngay trong ngày hoặc ngày hôm sau. Như vậy thực tế văn bản có hiệu lực từ trước giờ ban hành. Đây cũng là thực trạng chung đối với nhiều văn bản dưới luật trong giai đoạn 2025 – 2026.
1.2.3. Về một số nguyên nhân khách quan:
Hoạt động lập pháp, lập quy không theo kịp sự phát triển bứt phá của nền kinh tế trong những năm gần đây, đặc biệt là trước sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, với tốc độ phát triển thần tốc của công nghệ và các mô hình tài chính phi tập trung (DeFi).
Những biến động kinh tế toàn cầu, từ cú sốc của thị trường tài chính quốc tế, đến việc lạm phát và đứt gãy chuỗi cung ứng, làm cho pháp luật ngân hàng phải liên tục điều chỉnh, dẫn đến tính ổn định của một số văn bản dưới luật chưa cao.
Quan hệ ngân hàng, tài chính có tính chất phức tạp, luôn đan xen với các quan hệ dân sự, đất đai, đầu tư, kinh doanh, thậm chí cả hình sự, khiến việc xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn toàn độc lập và không chồng chéo là điều rất khó khăn.
2. Một số đánh giá thực trạng thi hành pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam hiện nay:
2.1. Một số kết quả đạt được
2.1.1. Về công tác truyền thông chính sách, pháp luật:
Ngành Ngân hàng đã triển khai khá hiệu quả Đề án “Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2022 – 2027”, đã được phê duyệt theo Quyết định số 407/QĐ-TTG ngày 30/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ. Giai đoạn 2017 – 2025, gần như duy nhất Ngân hàng Nhà nước có Vụ Truyền thông, độc lập với các cơ quan báo chí và trang thông tin điện tử của ngành, để chuyên trách việc truyền thông chính sách của ngành Ngân hàng. Đây là khâu đột phá, có tác động lớn, giúp thay đổi nhận thức về ngành Ngân hàng của công chúng.
Với tính chủ động cao, truyền thông chính sách của ngành Ngân hàng tham gia sớm ngay từ khâu soạn thảo văn bản. Ví dụ như đối với Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện truyền thông đa phương tiện để tạo sự đồng thuận xã hội, giúp người gửi tiền yên tâm, giảm thiểu tin đồn thất thiệt gây rủi ro hệ thống.
Đặc biệt Ngân hàng Nhà nước còn phối với với VTV triển khai các chương trình giáo dục, giải trí tài chính như “Tiền khéo tiền khôn” (VTV3 2017 – 2022), “Tay hòm chìa khóa” (VTV2 2022 – 2026 vẫn đang phát), có tỉ lệ người xem rất cao, giúp đưa kiến thức pháp lý khô khan thành các tình huống gần gũi, vui vẻ, hấp dẫn. Vụ trưởng Vụ Truyền thông Lê Thị Thúy Sen đã viết cuốn sách “Khéo khôn với tiền – Tránh những ưu phiền” (Nhà xuất bản Kim Đồng 2023) và đặc biệt là bộ sách 12 cuốn “Giáo dục tài chính” (Nhà xuất bản Giáo dục 2025), được in hàng vạn cuốn đưa vào giảng dạy ở tất cả cấp học phổ thông.
2.1.2. Về hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật:
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ngân hàng trong khoảng 10 năm gần đây đã đạt được tính khả thi cao hơn đáng kể so trước. Nhìn chung, các quy định của ngành Ngân hàng dễ tiếp cận, dể hiểu và dễ tuân thủ hơn đối với cả các tổ chức tín dụng cũng như khách hàng từ người gửi tiền, vay tiền, cho đến sử dụng các dịch vụ khác.
Vì những năm gần đây, phần lớn văn bản nghiệp vụ ngân hàng dựa trên cơ sở đúc kết, nâng cấp, sửa đổi, bổ sung những quy định đã được ban hành từ nhiều năm trước, nên có thể áp dụng thuận lợi ngay từ thời điểm văn bản mới có hiệu lực. Bên cạnh đó, có những văn bản tuy không phải là văn bản quy phạm pháp luật, lại là yêu cầu mới liên quan đến tất cả các ngân hàng và hàng trăm triệu tài khoản khách hàng, nhưng vì tầm quan trọng, cần thiết, nên vẫn có sự đồng thuận cao, được triển khai nhanh và có hiệu quả, như việc triển khai định danh điện tử (eKYC)[9].
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của ngành Ngân hàng cũng đã xử lý được kịp thời những vướng mắc thực tế. Ví dụ như Nghị quyết số 42/2017/QH14 về Xử lý nợ xấu, sau đó được gia hạn và bổ sung vào Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, đã có tác dụng rõ rệt giúp thu hồi, xử lý nợ xấu hiệu quả trong giai đoạn 2017 – 2026.
Các quy định nâng cấp chất lượng theo chuẩn mực quốc tế như Basel II, Basel III đã giúp hệ thống ngân hàng Việt Nam nâng cao năng lực quản trị rủi ro, có khả năng chống chịu tốt trước các cú sốc kinh tế toàn cầu.
Các văn bản liên quan đến hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt và ngân hàng số đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ việc thanh toán điện tử, giúp việc thanh toán không dùng tiền mặt trong giai đoạn 2021 – 2025 tăng trưởng khoảng 30 – 40%/năm, đưa Việt Nam đứng đầu khu vực về tốc độ tăng trưởng giao dịch số, đặt nền móng vững chắc cho nền kinh tế số.
Mặc dù Ngân hàng Nhà nước là một trong vài ngành ban hành nhiều thông tư nhất, nhưng nhìn chung nội dung tương đối ổn định, ít bị sửa đổi, bổ sung. Ví dụ, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN “Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng” là văn bản nghiệp vụ cơ bản, quan trọng hàng đầu, đến nay đã gần 10 năm, tuy cũng đã qua vài lần sửa đổi, bổ sung. Bên cạnh đó, ngoại lệ có những nghiệp vụ truyền thống cũ, rất cơ bản, nhưng vẫn phải thay đổi nhiều, như quy định về bảo lãnh ngân hàng từ năm 2012 đến 2024 đã ban hành tới 6 thông tư[10], trong khi vẫn xảy ra nhiều rủi ro tranh chấp nhức nhối về nghiệp vụ bảo lãnh, gây ra rất nhiều hoang mang lo ngại cho người nhận bảo lãnh.
Do đặc thù của các hoạt động ngân hàng và dịch vụ liên quan, phải tuân thủ nhiều quy định chặt chẽ, liên quan đến nhiều yêu cầu đòi hỏi quốc tế, nên chi phí tuân thủ thường không thấp khi phải bố trí nhân lực, máy móc, công nghệ quản lý. Tuy nhiên, chi phí tuân thủ tăng thêm so với quy mô kinh doanh của ngành Ngân hàng được đánh giá là ở mức hợp lý, chấp nhận được.
2.2.3. Về việc kiểm tra, rà soát, hợp nhất, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật:
Ngân hàng Nhà nước được đánh giá là một trong những ngành tham gia tích cực và có hiệu quả vào các công việc kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có việc pháp điển hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ngân hàng và hợp nhất nghị định, thông tư do Ngân hàng Nhà nước chủ trì soạn thảo.
2.2.4. Về việc giải thích và hướng dẫn áp dụng pháp luật:
Ngân hàng Nhà nước đã thường xuyên tổ chức phổ biến, tập huấn và ban hành nhiều công văn giải đáp, hướng dẫn kịp thời, cụ thể các vấn đề nghiệp vụ cụ thể cho từng nhóm tổ chức tín dụng (như hướng dẫn về cho vay, bảo lãnh, thanh toán, eKYC, Open API).
2.2.5. Về việc đối thoại và giải quyết vướng mắc pháp lý:
Ngân hàng Nhà nước đã thường xuyên tổ chức việc đối thoại, tiếp nhận, lắng nghe phản ánh, kiến nghị, giải quyết khó khăn, vướng mắc về pháp lý của tổ chức tín dụng, cá nhân, doanh nghiệp và địa phương. Nhiều vấn đề đã được tiếp thu như cho vay các khoản có giá trị nhỏ dưới 100 triệu không cần phương án sử dụng vốn (Thông tư số 12/2024/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung Thông tư số 39/2016/TT-NHNN).
Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp và Bộ Nông nghiệp và Môi trường để xử lý các vướng mắc về đăng ký giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản thế chấp là dự án bất động sản.
2.2.6. Về việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật:
Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng được đặc biệt coi trọng để bảo đảm tuân thủ pháp luật và sự an toàn của hệ thống tài chính, tiền tệ, tín dụng ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước đã chuyển đổi mạnh theo hướng từ chủ yêu là thanh tra tại chỗ sang chủ yếu là giám sát sớm, giám sát từ xa dựa trên mức độ rủi ro, đồng thời vẫn tổ chức nhiều cuộc thanh tra để phát hiện và xử lý nhiều vụ việc vi phạm.
Với vai trò quan trọng của công tác thanh tra, nên Ngân hàng Nhà nước là một trong số rất ít bộ, ngành trước kia tổ chức thanh tra theo mô hình tổng cục và còn tiếp tục được phép duy trì cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng sau khi thực hiện chính sách tinh giản biên chế và tinh gọn tổ chức của các bộ, ngành từ năm 2025[11].
2.2.7. Về mức độ tuân thủ pháp luật của các tổ chức, cá nhân hoạt động trong ngành Ngân hàng:
Nhìn chung, những năm gần đây, sau nhiều vụ án, nhất là “đại án” liên quan đến ngân hàng, thì mức độ tuân thủ pháp luật của các pháp nhân và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng đã có sự biến chuyển đáng kể theo hướng bài bản, nghiêm túc hơn, trở thành ý thức tự giác để bảo đảm chất lượng và an toàn hoạt động, giảm thiểu việc tuân thủ có tính chất đối phó.
Sau hàng loạt vụ mất tiền gửi tại ngân hàng, thì khách hàng cá nhân và pháp luật của ngân hàng cũng đã nâng cao ý thức tuân thủ, từ việc giao dịch vay vốn, tiền gửi, tiền mặt, tài khoản thanh toán, góp phần vào việc nâng cao chất lượng hoạt động và an toàn cho hệ thống ngân hàng.
2.3. Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân:
2.3.1. Một số tồn tại, hạn chế:
Trong việc thi hành pháp luật vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như sự thiếu đồng bộ trong phối hợp liên ngành như việc thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm là bất động sản thường bị đình trệ do sự thiếu thống nhất giữa quy định của pháp luật ngân hàng với pháp luật về đất đai, đầu tư, nhà ở, kinh doanh bất động sản và thi hành án dân sự; việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng và tài sản bảo đảm tại Tòa án thường bị kéo dài, trong khi Trọng tài thương mại thường ít được lựa chọn vì vướng mắc không có thẩm quyền giải quyết khi xuất hiện bên thứ ba không có thỏa thuận trọng tài.
Một số nghiệp vụ vẫn còn khoảng trống pháp lý hoặc còn đang trong giai đoạn đầu đối với công nghệ tài chính (Fintech) chấm điểm tín dụng, cho vay ngang hàng, tài sản số. Ví dụ, thừa kế tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi khác là một vấn đề khá phổ biến, nhưng cũng khá phức tạp, cần quy định thống nhất, cụ thể để bảo đảm “việc chi trả tiền gửi tiết kiệm chính xác, an toàn tài sản cho người gửi tiền và an toàn hoạt động cho tổ chức tín dụng”, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người thừa kế tiền gửi. Tuy nhiên, các Thông tư về tiền gửi của Ngân hàng Nhà nước lại hoàn toàn bỏ ngỏ quy định cụ thể, mà chỉ giao trách nhiệm hướng dẫn thủ thục chi trả cho các tổ chức tín dụng[12]. Thậm chí, đối với dịch vụ bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn của tổ chức tín dụng thì chỉ quy định về việc khách hàng được yêu cầu trả lại và được nhận lại tài sản bảo quản, hay trong việc phát hành chứng chỉ tiền gửi thì chỉ nhắc đến trường hợp thừa kế, mà không có bất cứ quy định nào trong trường hợp thừa kế[13]. Vì vậy trên thực tế, mỗi tổ chức tín dụng quy định một khác và gây ra rất nhiều khó khăn, vướng mắc cho người thừa kế tiền gửi, tài sản gửi.
Đặc biệt pháp luật ngân hàng chưa quy định chặt chẽ, cụ thể về trách nhiệm bảo đảm an toàn tiền gửi của khách hàng, đồng thời chưa có giải pháp kịp thời và hữu hiệu ngăn chặn, phong tỏa và thu hồi tài sản bị tội phạm công nghệ cao chiếm đoạt. Ví dụ, quy định chuyển tiền từ trên 10 triệu thì phải xác thực sinh trắc học, nhưng chỉ trong 14 phút, từ 01 giờ 19 phút đêm 13/12/2025, khách hàng Nguyễn Chí S., Ban Thời sự VTV đã bị tội phạm chuyển khỏi tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng K. 11 lần, với tổng cộng 05 tỷ đồng, mà không hề có một lần nào có xác thực của chủ tài khoản[14].
Trong hoạt động thanh tra, giám sát thì pháp luật ngân hàng vẫn chưa phát hiện, xử lý chấm dứt được tình trạng sở hữu chéo.
2.3.2. Nguyên nhân chủ quan:
Với sự tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường, sự phức tạp của các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, sự biến đối nhanh chóng của công nghệ, nên năng lực của đội ngũ thực thi của cả Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng đều chưa theo kịp.
Sau nhiều vụ án đối với ngân hàng và liên quan đến trách nhiệm của cán bộ ngân hàng, một số cán bộ ngành Ngân hàng có tâm lý e ngại, thận trọng quá mức, dẫn đến việc giải quyết các hồ sơ nghiệp vụ, nhất là đối với các nghiệp vụ mới và hướng dẫn pháp luật cho doanh nghiệp đôi khi bị đình trệ hoặc bị đùn đẩy trách nhiệm.
Ngoài ra, vẫn còn một số người quản lý và nhân viên các tổ chức tín dụng chưa đề cao ý thức tuân thủ pháp luật, vẫn tìm cách lách luật thông qua các cấu trúc đầu tư phức tạp để che giấu sở hữu thực tế, không thẩm định chặt chẽ hoặc bỏ ngỏ, thậm chí tiếp tay đối với việc cho vay vượt giới hạn, không đủ điều kiện cho vay, đảo nợ trái quy định, sử dụng vốn sai mục đích.
2.3.3. Nguyên nhân khách quan:
Tốc độ biến động của thị trường tài chính rất lớn, tình hình kinh tế thế giới bất ổn, đi liền với sự xuất hiện của các sản phẩm tài chính lai (hybrid) và công nghệ mới (AI, Blockchain) quá nhanh, khiến các quy định pháp luật dễ bị rơi vào tình trạng lỗi thời và mất ổn định.
Việc thiếu dữ liệu đầy đủ, chính xác và thiếu sự liên thông giữa cơ sở dữ liệu dân cư, dữ liệu doanh nghiệp, dữ liệu đất đai, khiến việc thẩm định hồ sơ tín dụng, cũng như việc kiểm tra, xử lý vi phạm gặp nhiều trở ngại.
3. Một số đánh giá về điều kiện bảo đảm cho công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng:
3.1. Một số kết quả đạt được:
3.1.1. Về điều kiện về nguồn nhân lực pháp luật:
Ngành Ngân hàng đang có một đội ngũ chuyên gia pháp lý có chất lượng cao tại Việt Nam. Đội ngũ cán bộ pháp chế tại Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng với số lượng đông đảo hàng đầu trong các ngành nghề, am hiểu pháp luật và nghiệp vụ, chuyên nghiệp, được đào tạo liên tục, được tạo điều kiện thuận lợi thực hiện công tác xây dựng và thi hành pháp luật.
3.1.2. Về điều kiện về nguồn lực tài chính:
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nói chung và trong ngành Ngân hàng nói riêng đã được bảo đảm ưu tiên ngân sách hơn các bộ, ngành khác, do ngành được áp dụng cơ chế đặc thù, có quyền tự chủ về tài chính, nhất là sau khi có Nghị quyết số 197/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội “Về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật”. Trong trường hợp cần huy động nguồn lực xã hội, thì các tổ chức tín dụng cũng có nhiều khả năng về tài chính và nhân sự, đồng thời sẵn sàng đóng góp kinh phí để khảo sát, tổng kết, soạn thảo, hội thảo, góp ý, phản biện và triển khai thi hành pháp luật.
3.1.3. Về điều kiện về hạ tầng và ứng dụng công nghệ thông tin:
Ngân hàng là ngành có cơ sở hạ tầng tốt, hiện đại, tiên phong về hạ tầng số và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động nói chung và trong thi hành pháp luật nói riêng. Do đó, khá thuận lợi để tham gia công tác xây dựng cũng như thi hành pháp luật liên quan đến điều kiện hoặc cần có sự hỗ trợ của hạ tầng, trong đó có hạ tầng số và ứng dụng công nghệ thông tin.
3.1.4. Về điều kiện về chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo:
Việc chuyển đổi số trong lĩnh vực tài chính – Ngân hàng đã được Thủ tước Chính phủ xác định là một trong tám lĩnh vực ưu tiên vì tác động xã hội, liên quan hằng ngày tới người dân, thay đổi nhận thức nhanh nhất, mang lại hiệu quả, giúp tiết kiệm chi phí, đã được nêu trong “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, ban hành kèm theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ.
Việc chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong ngành Ngân hàng vào công tác xây dựng và thi hành pháp luật đã được đẩy mạnh trong giai đoạn 2024 – 2026. Ngân hàng Nhà nước đã ban hành các thông tư hướng dẫn sử dụng trí tuệ nhân tạo để triển khai nghiệp vụ cho vay trực tuyến, mở tài khoản trực tuyến (eKYC), xác thực qua ứng dụng VNeID, và các chuẩn hóa về an toàn, bảo mật thông tin[15].
Một số báo cáo tuân thủ như về phòng, chống rửa tiền đã được tự động hóa; một số nghiệp vụ cốt lõi tại các ngân hàng thương mại hiện đã được số hóa hoàn toàn, số lượng giao dịch trên kênh số Internet Banking và Mobile Banking đạt trên 90%.
3.2. Một số hạn chế, bất cập và nguyên nhân:
3.2.1. Một số tồn tại, hạn chế:
Ngành Ngân hàng còn thiếu đội ngũ chuyên gia vừa am hiểu sâu về pháp luật ngân hàng, vừa có kiến thức chuyên môn về công nghệ (AI, Blockchain, Big Data). Điều này dẫn đến việc xây dựng quy định cho các mô hình Fintech thường bị chậm hoặc thiếu tính dự báo và làm nảy sinh các nguy cơ về bảo mật dữ liệu khách hàng và bí mật nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng.
Số lượng văn bản quy phạm pháp luật cần rà soát, sửa đổi và hướng dẫn là quá lớn so với số lượng cán bộ pháp chế, dẫn đến đôi khi chất lượng của một số văn bản dưới luật chưa thực sự sát với thực tiễn.
Cơ chế chi ngân sách cho việc chuyên gia tư vấn, phản biện độc lập (đặc biệt là chuyên gia quốc tế) vẫn rất thấp và khó khăn, nên chưa thu hút được đội ngũ giỏi và hiệu quả hàng đầu.
3.2.2. Nguyên nhân chủ quan:
Một số cán bộ vẫn còn e ngại và chưa thành thạo trong việc áp dụng AI, nên chưa tận dụng được tối đa lợi thế của công nghệ vào quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Quy trình xây dựng văn bản còn ưu tiên tuân thủ về thủ tục, hình thức để hợp lý hóa công việc và trách nhiệm thay vì tập trung trách nhiệm cao nhất vào chất lượng.
3.2.3. Nguyên nhân khách quan:
Do công nghệ thay đổi quá nhanh chóng, nên các mô hình tài chính phi tập trung (DeFi) và ngân hàng ảo phát triển với tốc độ vượt xa khả năng đáp ứng của hạ tầng pháp lý truyền thống.
Quan hệ ngân hàng mang tính chất đa ngành, nên pháp luật ngân hàng không thể đứng độc lập, mà còn phụ thuộc vào khung pháp lý quốc tế phức tạp; vào sự đồng bộ của hạ tầng công nghệ thông tin cũng như dữ liệu các ngành liên quan (như thông tin về đăng ký, thế chấp tài sản, đặc biệt là đất đai, thi hành án).
4. Một số mục tiêu, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong Kỷ nguyên mới:
4.1. Một số mục tiêu đến năm 2030 và 2045:
4.1.1. Một số mục tiêu đến năm 2030:
Mục tiêu tổng quát trong giai đoạn 2026 – 2030 là xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, số hóa; hoàn thiện hành lang pháp lý cho ngân hàng số, tài chính xanh và các mô hình kinh doanh dựa trên công nghệ (Fintech).
Do đó pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cần phải góp phần đạt được một số mục tiêu định lượng là: Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp 30 – 40 lần GDP (năm 2024 gấp 26 lần, năm 2025 gấp 28 lần); 100% các chuẩn mực Basel III được ghi nhận trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ngân hàng; 100% các thủ tục hành chính và hoạt động giám sát được thực hiện trên môi trường số, dựa trên dữ liệu thực[16]. Hành lang pháp lý ngân hàng góp phần thúc đẩy đến năm 2030 “đạt mục tiêu có ít nhất 03 ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực Châu Á về tổng tài sản; phát triển 04 ngân hàng thương mại nhà nước đi đầu, tiên phong về công nghệ, năng lực quản trị, chủ lực, chủ đạo về quy mô, thị phần, khả năng điều tiết thị trường trong toàn hệ thống ngân hàng”[17].
4.1.2. Một số mục tiêu đến năm 2045:
Mục tiêu tổng quát trong giai đoạn 2031 – 2045 là hình thành một hệ thống pháp luật thông minh và hội nhập toàn cầu; áp dụng chuẩn mực quản trị hiện đại, nâng cao năng lực quản lý rủi ro; bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình. Xây dựng chiến lược chuyển đổi số toàn diện cho ngân hàng; số hoá dịch vụ, dữ liệu, quản lý vốn theo thời gian thực; phát triển các dịch vụ ngân hàng số, mở rộng cung cấp sản phẩm tài chính trực tuyến đến mọi vùng miền của cả nước theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về “Phát triển kinh tế nhà nước”.
Do đó pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cần phải góp phần đạt được một số mục tiêu định lượng là: Có ít nhất 02 – 03 ngân hàng nằm trong Top 100 ngân hàng lớn nhất khu vực và thế giới, với 100% hệ thống pháp luật ngân hàng tương thích hoàn toàn với các thị trường tài chính phát triển (OECD).
4.2. Kiến nghị một số giải pháp:
4.2.1. Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng:
(1) Những nội dung cần tiếp tục được kế thừa và cần được sửa đổi, bổ sung:
Trong cả giai đoạn 2026 – 2045, liên tục phải rà soát và sửa đổi những nội dung còn bất cập và để phù hợp với tình hình biến động của Luật Bảo hiểm tiền gửi; Luật Các công cụ chuyển nhượng; Luật Các tổ chức tín dụng; Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Luật Phòng, chống rửa tiền[18]. Đồng thời sửa đổi, bổ sung các nghị định, thông tư liên quan.
Cùng với việc chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo, là việc xây dựng cơ chế ưu đãi đặc thù để thu hút chuyên gia giỏi cả về luật cũng như công nghệ, để tham gia vào bộ máy xây dựng và thực thi pháp luật, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng, kết nối dữ liệu giữa ngân hàng với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai và thuế theo thời gian thực (Real-time).
(2) Những đạo luật cần được ban hành mới cho giai đoạn từ 2026 – 2030:
Trong giai đoạn này, cần nghiên cứu, xem xét xây dựng các luật mới hoặc bổ sung chế định luật mới trong các luật hiện hành, trong đó chủ yếu là luật thay thế cho các pháp lệnh, nghị định, thông tư hiện hành như: Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tài chính; Luật Hệ thống thanh toán quốc gia; Luật Ngoại hối; Luật Thanh toán; Luật Tiền kỹ thuật số (của Ngân hàng Trung ương); Luật Tín dụng ngân hàng.
(3) Những đạo luật cần được ban hành mới cho giai đoạn 2031 – 2045:
Trong giai đoạn này, cần nghiên cứu, xem xét xây dựng các luật hoặc chế định luật mới, trong đó chủ yếu là luật thay thế cho các nghị định, thông tư hiện hành như: Luật Bảo lãnh ngân hàng; Luật Công nghệ tài chính (Fintech); Luật Ngân hàng số (quy định riêng cho các mô hình ngân hàng không có chi nhánh vật lý); Luật Tập đoàn tài chính (để công nhận và giám sát các tập đoàn tài chính đa ngành, ngăn chặn hiệu quả sở hữu chéo và thao túng thị trường); Luật Thanh tra, giám sát ngân hàng; Luật Xử lý nợ xấu; Luật khác thay thế cho một số nghị định, thông tư.
4.2.2. Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế thi hành pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng:
(1) Về việc truyền thông chính sách, pháp luật:
Trong việc truyển thông chính sách, pháp luật, cần thay đổi tư duy từ “phổ biến những gì cơ quan nhà nước có” sang “truyền thông những gì người dân, doanh nghiệp cần”. Đặc biệt là việc chuyển từ truyền thông một chiều sang truyền thông hai chiều, dựa trên việc sử dụng AI Chatbot để giải đáp thắc mắc pháp lý của người dân 24/7, đồng thời thu thập phản hồi về những quy định còn mâu thuẫn, gây khó hiểu.
Về hình thức truyền thông, thì cần phải đa dạng hóa, trong đó ứng dụng mạnh mẽ mạng xã hội, Infographic, Podcast và Video ngắn để giải thích các quy định phức tạp. Đồng thời, bên cạnh việc đa dạng hóa hình thức truyền thông, thì cần phải chuyên biệt hóa nội dung, trên cơ sở xây dựng các chương trình truyền thông chuyên biệt cho từng nhóm đối tượng (ví dụ: pháp luật về tín dụng nông nghiệp cho nông dân; pháp luật về Fintech cho giới trẻ).
(2) Về việc đánh giá văn bản quy phạm pháp luật sau ban hành:
Để đánh giá về hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật trên thực tế, thì cần phải thiết lập chỉ số đánh giá (KPI) trên cơ sở xây dựng bộ tiêu chí định lượng để đánh giá hiệu quả văn bản (ví dụ: tỉ lệ tổ chức tín dụng tuân thủ, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp, số lượng vướng mắc và tranh chấp phát sinh từ văn bản đó).
Đồng thời cần phải lập báo cáo tác động định kỳ sau mỗi 2 – 3 năm ban hành, trong đó cơ quan chủ trì báo cáo đánh giá văn bản đó có thực sự tạo điều kiện thuận lợi hợp lý cho hoạt động hay gây ra trở ngại, khó khăn, vướng mắc.
(3) Về việc kiểm tra, rà soát, hợp nhất hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật:
Ngoài việc kiểm tra, rà soát, hợp nhất hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật như vẫn làm lâu nay, thì cần thiết phải sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để phát hiện các quy định mâu thuẫn giữa văn bản quy phạm pháp luật của ngành Ngân hàng với các lĩnh vực khác.
Đồng thời bảo đảm việc hợp nhất văn bản được thực hiện càng sớm càng tốt, nhất là văn bản có hiệu lực ngay hoặc hiệu lực sớm và trước khi có hiệu lực thi hành để các ngân hàng và khách hàng thuận lợi trong việc tìm hiểu và áp dụng[19].
(4) Về việc đối thoại, tiếp nhận, lắng nghe phản ánh, kiến nghị và giải quyết khó khăn, vướng mắc pháp lý về pháp lý của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, địa phương:
Tổ chức định kỳ và thường xuyên các hội nghị đối thoại trực tiếp và trực tuyến giữa Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng, hiệp hội ngành nghề, doanh nghiệp, địa phương và người dân để phản ứng chính sách nhanh, tháo gỡ khó khăn về tiếp cận vốn và xử lý nợ xấu.
Xây dựng một Hotline pháp lý chung của ngành Ngân hàng chuyên giải quyết các vướng mắc về thủ tục ngân hàng, cam kết thời gian trả lời cụ thể (ví dụ: trong vòng 05 ngày làm việc).
(5) Về việc thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật:
Thực hiện giám sát từ xa thay cho thanh tra tại chỗ, nhất là đối với các vấn đề về tỷ lệ, giới hạn an toàn, dựa trên dữ liệu lớn, kết nối dữ liệu trực tiếp từ các tổ chức tín dụng với Ngân hàng Nhà nước, kể cả hồ sơ tín dụng.
Áp dụng công nghệ để tự động phát hiện, xử lý các vi phạm, các giao dịch đáng ngờ, rửa tiền hoặc thao túng thị trường tiền tệ. Đồng thời, xử lý nghiêm và công khai các quyết định xử phạt vi phạm hành chính (trừ các nội dung bí mật nhà nước) để tạo sự răn đe và minh bạch hóa thị trường.
4.2.3. Một số giải pháp tăng cường điều kiện bảo đảm cơ chế vận hành của hệ thống pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng:
(1) Về cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác xây dựng và thi hành pháp luật:
Các cấp ủy Đảng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước cần ban hành các Nghị quyết chuyên đề về hoàn thiện thể chế ngân hàng số và tín dụng xanh, bảo đảm các chủ trương của Đảng được thể chế hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể.
Đặc biệt các cấp ủy Đảng trong ngành Ngân hàng, kể cả ngân hàng thương mại, cần phải tăng cường kiểm tra, giám sát để kiểm soát quyền lực, ngăn chặn tình trạng lợi ích nhóm và thao túng chính sách ngay từ khâu dự thảo cho đến khâu ban hành và thi hành văn bản quy phạm pháp luật.
(2) Về cơ chế giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, cơ chế giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội, cơ chế giám sát của Nhân dân đối với công tác xây dựng và thi hành pháp luật:
Quốc hội cần tăng cường giám sát tối cao, trong đó có giám sát chuyên đề thực thi đối với Luật Bảo hiểm tiền gửi, Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng, đặc biệt là công tác xử lý nợ xấu và an toàn hệ thống. Hội đồng nhân dân các cấp và Mặt trận Tổ quốc giám sát theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ, địa bàn liên quan.
Các Hiệp hội ngành nghề, Hiệp hội Ngân hàng phát huy vai trò trong việc phản biện các chính sách có tác động lớn đến quyền lợi người gửi tiền và doanh nghiệp vay vốn, sử dụng dịch vụ ngân hàng.
Không chỉ các quy định, mà mở rộng đến các quy trình nghiệp vụ ngân hàng cần được công khai hóa các trên nền tảng số, cổng thông tin điện tử, để người dân dễ dàng giám sát và phản ánh các hành vi sách nhiễu hoặc vi phạm pháp luật.
(3) Về hệ thống thông tin pháp luật:
Chuyển đổi số, thiết lập hệ thống thông tin pháp luật ngân hàng tập trung, liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và doanh nghiệp.
Sử dụng AI để tự động rà soát, đối chiếu sự trùng lặp giữa văn bản ngân hàng với các luật chuyên ngành khác.
Triển khai công nghệ quản trị để theo dõi việc tuân thủ pháp luật của các tổ chức tín dụng theo thời gian thực.
(4) Về nguồn nhân lực pháp luật, tài chính, cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo cho công tác xây dựng và thi hành pháp luật, hợp tác quốc tế về pháp luật:
Cần thiết xây dựng nguồn nhân lực, tài chính và cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ chuyên gia pháp lý có kiến thức về Fintech và bảo mật mạng. Đây là lực lượng nòng cốt để xây dựng khung pháp lý cho tài sản số và ngân hàng ảo.
Cần phải có quy định cơ chế tài chính linh hoạt, ưu tiên ngân sách cho công tác thuê tư vấn độc lập và chuyên gia quốc tế để phản biện các chính sách tài chính phức tạp, bảo đảm tính khách quan và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
(5) Mở rộng hợp tác quốc tế về pháp luật ngân hàng:
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, pháp luật ngân hàng không thể đứng tách biệt, nên cần nhanh chóng nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế, nhất là các nguyên tắc của Ủy ban Basel, các quy định của Lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF) về phòng, chống rửa tiền.
Đồng thời, hợp tác pháp lý xuyên biên giới, xây dựng các hiệp định tương trợ pháp lý trong lĩnh vực ngân hàng để xử lý các vụ việc tranh chấp tài chính quốc tế và tội phạm công nghệ cao xuyên quốc gia. Hợp tác với các trung tâm tài chính lớn (Singapore, London) để học hỏi mô hình, hoàn thiện khung pháp lý thử nghiệm cho các công nghệ tài chính mới (Sandbox).
5. Đề xuất, kiến nghị với một số cơ quan có thẩm quyền:
5.1. Một số đề xuất, kiến nghị với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật:
5.1.1. Chỉ đạo xây dựng hệ thống pháp luật ngân hàng theo hướng mở, tạo hành lang cho đổi mới sáng tạo, chuyển đổi mạnh mẽ và triệt để từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo”, để pháp luật không chỉ là công cụ kiểm soát mà phải là động lực thu hút nguồn lực tài chính toàn cầu.
5.1.2. Trong giai đoạn 2026 – 2030, tiếp tục thực hiện theo đúng tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về “Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong Kỷ nguyên mới”: “Bên cạnh một số bộ luật, luật quy định về quyền con người, quyền công dân, tố tụng tư pháp cần cụ thể, về cơ bản các luật khác, nhất là luật điều chỉnh các nội dung về kiến tạo phát triển chỉ quy định những vấn đề khung, những vấn đề có tính nguyên tắc thuộc thẩm quyền của Quốc hội, còn những vấn đề thực tiễn thường xuyên biến động thì giao Chính phủ, Bộ, ngành, địa phương quy định để bảo đảm linh hoạt, phù hợp với thực tiễn”. Tuy nhiên đến giai đoạn 2031 – 2045, cần xem xét dần trở lại định hướng xây dựng luật cụ thể, chi tiết hơn, tăng vai trò của cơ quan lập pháp, giảm dần thẩm quyền và số lượng văn bản của cơ quan hành pháp.
5.1.3. Chỉ đạo xây dựng và ban hành các đạo luật để hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong giai đoạn 2026 – 2045.
5.1.4. Chỉ đạo xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành (Ngân hàng – Chứng khoán – Bảo hiểm) dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ để giám sát các tập đoàn tài chính đa ngành, ngăn chặn triệt để sở hữu chéo và thao túng trục lợi chính sách. Chức năng này đã từng do Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia đảm nhận, nhưng Ủy ban này đã được giải thể từ ngày 16/6/2025[20].
5.1.5. Chỉ đạo hoàn thành đúng tiến độ dự án đang tiến hành về “Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia và Từ điển dữ liệu dùng chung quốc gia”[21], trong đó kết nối được dữ liệu Ngân hàng với cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm, Tòa án và Thi hành án để giải quyết dứt điểm “điểm nghẽn” xử lý nợ và tài sản bảo đảm.
5.1.6. Chỉ đạo xây dựng đề án đào tạo nhân tài pháp luật liên ngành (Luật – Công nghệ – Tài chính), để xây dựng đội ngũ chuyên gia pháp luật cấp chiến lược, là đội ngũ nòng cốt tham gia vào các tổ chức tài chính quốc tế để bảo vệ lợi ích quốc gia.
5.2. Một số đề xuất, kiến nghị với Quốc hội:
5.2.1. Sửa đổi, bổ sung và ban hành các Luật hoặc chế định luật sau đây:
(1) Luật Bảo lãnh ngân hàng (hoặc trong Luật Tín dụng ngân hàng);
(2) Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tài chính (hoặc quy định trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bao gồm cả mật thông tin tài chính và nội dung về chống cho vay nặng lãi);
(3) Luật Các công cụ chuyển nhượng (sửa đổi, bổ sung Luật hiện hành năm 2005);
(4) Luật Công nghệ tài chính (Fintech), gồm cả cơ chế thử nghiệm trong lĩnh vực tài chính (Sandbox) (thay cho Nghị định số 94/2025/NĐ-CP[22]), để bảo đảm cơ sở pháp lý an toàn cho các mô hình Fintech, thanh toán mới;
(5) Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sửa đổi, bổ dung Luật hiện hành năm 2010), theo hướng nâng cao thực chất tính độc lập, tự chủ của Ngân hàng Nhà nước trong điều hành chính sách tiền tệ để ứng phó nhanh với biến động toàn cầu;
(6) Luật Ngân hàng số (Digital Banking), để áp dụng cho ngân hàng hoạt động trên môi trường số, định danh điện tử (eKYC), chữ ký số ngân hàng và bảo mật dữ liệu khách hàng xuyên biên giới;
(7) Luật Ngoại hối (thay thế Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005), theo hướng nới lỏng có kiểm soát các quy định về đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp công nghệ tài chính Việt Nam để mở rộng thị trường, từng bước tiến tới tự do hóa ngoại hối;
(8) Luật Thanh toán (thay thế Nghị định số 222/2013/NĐ-CP về “Thanh toán bằng tiền mặt’ và Nghị định số 52/2024/NĐ-CP về “Thanh toán không dùng tiền mặt”), bao gồm cả Hệ thống thanh toán quốc gia (riêng nội dung này đã từng được đề cập đến trong có trong kế hoạch xây dựng pháp luật của Ngân hàng Nhà nước từ năm 2021)[23];
(9) Luật Tập đoàn tài chính, để công nhận và giám sát các tập đoàn tài chính đa ngành, ngăn chặn hiệu quả sở hữu chéo và thao túng thị trường;
(10) Luật Tiền kỹ thuật số, để phát hành và quản lý tiền điện tử của Ngân hàng Trung ương (bên cạnh Luật Tài sản số để định danh pháp lý cho tài sản số, xác lập quyền sở hữu để quản lý thuế, phòng chống rửa tiền và bảo vệ quyền sở hữu của người dân trên không gian mạng; hiện nay mới chỉ có Nghị định số 05/2025/NQ-CP ngày 09/9/2025 của Chính phủ về việc “Triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam”);
(11) Luật Tín dụng ngân hàng (thay thế các quy định về cấp tín dụng của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 và các Thông tư của Ngân hàng Nhà nước); trong đó có tiêu chuẩn tín dụng xanh và trách nhiệm bảo vệ môi trường – xã hội của các tổ chức tín dụng, nhằm đáp ứng điều kiện bắt buộc để Việt Nam hội nhập sâu vào thị trường vốn quốc tế;
(12) Luật Thanh tra, giám sát ngân hàng;
(13) Luật Xử lý nợ xấu (thay thế các quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 và mở rộng phạm vi điều chỉnh, gồm cả quy định về Công ty quản lý tài sản và Xử lý nợ).
(14) Ngoài ra, sửa đổi, bổ dung các Luật hiện hành như Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 và các Luật liên quan khác đáp ứng yêu cầu trong từng thời kỳ.
5.2.2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội tăng cường vai trò giải thích luật nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói trên để giải đáp kịp thời những vướng mắc, bảo đảm sự thống nhất trong việc hiểu, thực hiện luật và giải quyết tranh chấp.
5.3. Một số đề xuất, kiến nghị với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ:
5.3.1. Thiết lập tổ công tác đặc trách gồm các chuyên gia liên ngành (Ngân hàng – Tư pháp – Công nghệ) để xử lý các vướng mắc pháp lý phát sinh từ thực tiễn chuyển đổi số. Mục tiêu là rút ngắn thời gian ban hành văn bản hướng dẫn từ khi Luật có hiệu lực.
5.3.2. Sửa đổi, bổ sung Nghị định về giao dịch bảo đảm theo hướng, quy định rõ ràng hơn về việc đăng ký giao dịch bảo đảm trực tuyến và xử lý tài sản bảo đảm là tài sản hình thành trong tương lai, quyền sở hữu trí tuệ, và dữ liệu số.
5.3.3. Chỉ đạo việc kết nối theo thời gian thực giữa Hệ thống thông tin tín dụng quốc gia (CIC) với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai và đăng ký kinh doanh, để minh bạch hóa tài chính và giảm thiểu tín dụng đen.
5.3.4. Cấp ngân sách trọng điểm để hiện đại hóa hệ thống giám sát ngân hàng, chuyển sang giám sát dựa trên dữ liệu luân chuyển thực tế để phát hiện sớm các rủi ro hệ thống.
5.4. Một số đề xuất, kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước:
5.4.1. Xây dựng hệ thống thu thập và phân tích dữ liệu thực tế (Big Data) để đánh giá tác động của chính sách trước khi ban hành.
5.4.2. Xây dựng hệ thống giám sát tự động kết nối trực tiếp với các tổ chức tín dụng để tự động cảnh báo các vi phạm về tỷ lệ an toàn vốn, sở hữu chéo hoặc các giao dịch đáng ngờ theo thời gian thực.
5.4.3. Xây dựng cơ chế tuyển dụng, đào tạo và đãi ngộ đặc thù (vượt khung thông thường) đối với đội ngũ chuyên gia pháp chế trình độ quốc tế, am hiểu sâu về AI và Blockchain.
5.4.4. Xây dựng Cổng dịch vụ công pháp lý ngành Ngân hàng tích hợp AI để hỗ việc giải đáp, tra cứu, thực hiện các thủ tục hành chính, đồng thời tiếp nhận phản ánh vướng mắc pháp lý.
5.5. Một số đề xuất, kiến nghị khác:
5.5.1. Ngoài các văn bản quy phạm pháp luật, cần nâng cấp Bộ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử của cán bộ ngân hàng tại Việt Nam đã được Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) ban hành theo Quyết định số 11/QĐ-HHNH ngày 25/02/2019.
5.5.2. Giai đoạn 2035 – 2045 cần nghiên cứu xây dựng Bộ luật Ngân hàng để nâng cao hiệu lực pháp lý, tăng tính đồng bộ, thống nhất; giảm sự chồng chéo, dễ dàng tra cứu, áp dụng.
——————–
Hà Nội ngày 28-6-2026
Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC)
[1] Các Nghị quyết không đề cập cụ thể đến chính sách tiền tệ, tín dụng, ngân hàng, mà đề cập đến một cách khái quát và gián tiếp thông qua chủ trương ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hoàn thiện thể chế, kinh tế số hay chuyển đổi số quốc gia.
[2] Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025; Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005; Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2024, 2025); Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010; Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022. Ngoài ra, còn Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 có liên quan nhiều đến ngân hàng.
[3] Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013).
[4] Quyết định số 4107/QĐ-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, ban hành “Chương trình xây dựng thông tư năm 2026 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”.
[5] Điều 24 về “Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ”, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 18 về “Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ”, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
[6] Điều 126 về “Những trường hợp không được cấp tín dụng”, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 15 về “Hành vi bị nghiêm cấm”, Điều 134 về “Những trường hợp không được cấp tín dụng”, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2024 và 2025).
[7] Điều 8 về “Những nhu cầu vốn không được cho vay”, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước “Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng” (sửa đổi, bổ sung theo các Thông tư số 06/2023/TT-NHNN ngày 28/6/2023; số 10/2023/TT-NHNN ngày 23/8/2023; số 12/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 và số 52/2025/TT-NHNN ngày 25/12/2025.
[8] Basel hay Hiệp ước Basel là hệ thống các nguyên tắc, chuẩn mực và thông lệ quốc tế về giám sát ngân hàng, do Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng ban hành với các phiên bản I, II, III.
[9] Quyết định số 2345/QĐ-NHNN ngày 18/12/2023 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về “Triển khai các giải pháp an toàn, bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng”.
[10] Thông tư số 28/2012/TT-NHNN ngày 03/10/2012; Thông tư số 07/2015/TT-NHNN ngày 25/6/2015; Thông tư số 13/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017; Thông tư số 11/2022/TT-NHNN ngày 30/9/2022; Thông tư số 49/2024/TT-NHNN ngày 25/10/2024; Thông tư số 61/2024/TT-NHNN ngày 31/12/2024.
[11] Điều 7 về “Cơ quan thanh tra”, Luật Thanh tra năm 2025.
[12] Điểm a, khoản 4, Điều 18 về “Thủ tục chi trả tiền gửi tiết kiệm tại địa điểm giao dịch của tổ chức tín dụng”, Thông tư số 48/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước “Quy định về tiền gửi tiết kiệm”; điểm b, khoản 2, Điều 15 về “Quy định nội bộ”, Thông tư số 49/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước “Quy định về tiền gửi có kỳ hạn”.
[13] Thông tư số 02/2016/TT-NHNN ngày 26/02/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về “Dịch vụ bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn của tổ chức tín dụng”; khoản 1, Điều 12 về “Chuyển quyền sở hữu chứng chỉ tiền gửi và xử lý các trường hợp rủi ro khác”, Thông tư số 02/2025/TT-NHNN ngày 29/4/2025 “Quy định về phát hành chứng chỉ tiền gửi trong nước của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”.
[14] Cho đến cuối tháng 5/2026, Ngân hàng vẫn không thừa nhận lỗi hệ thống công nghệ, mà cho rằng đó là lỗi của khách hàng.
[15] Như Quyết định số 2345/QĐ-NHNN ngày 18/12/2023 về “Triển khai các giải pháp an toàn, bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng”; Thông tư số 50/2024/TT-NHNN ngày 31/10/2024 “Quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến trong ngành ngân hàng”; Thông tư số 64/2024/TT-NHNN ngày 31/12/2024 “Quy định về triển khai giao diện lập trình ứng dụng mở trong ngành ngân hàng”.
[16] Phù hợp với mục tiêu của Chương trình “Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2035”, phê duyệt theo Quyết định số 826/QĐ-TTg ngày 11/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ.
[17] Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về “Phát triển kinh tế nhà nước”.
[18] Ngân hàng Nhà nước đã gửi sang Bộ Tư pháp Công văn số 1454/NHNN-PC ngày 04/3/2026, đề nghị thẩm định 2 Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Phòng, chống rửa tiền.
[19] Theo quy định của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật năm 2012 hiện nay là 05 ngày làm việc, kể từ ngày ký ban hành văn bản.
[20] Quyết định số 2439/QĐ-TTg ngày 04/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành “Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia, từ điển dữ liệu dùng chung (phiên bản 1.0)”.
[21] Quyết định số 16/2025/QĐ-TTg ngày 16/06/2025của Thủ tướng Chính phủ về việc “Giải thể Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia”.
[22] Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 của Chính phủ “Quy định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng”.
[23] Quyết định số 2006/QĐ-NHNN ngày 17/12/2021 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành “Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 1813/QĐ-TTg ngày 28/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025”.

