3.335. Gian nan xử lý tài sản bảo đảm trên hành trình thu hồi nợ vay

Gian nan xử lý tài sản bảo đảm trên hành trình thu hồi nợ vay

(KTSG) – Hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại luôn tiềm ẩn rủi ro khi khách hàng không trả được nợ và lãi vì nhiều lý do. Lúc này, việc thu hồi nợ sẽ phụ thuộc vào tài sản bảo đảm (TSBĐ) của khách hàng hoặc bên thứ ba, nhưng thực tế không phải tất cả TSBĐ được thế chấp tại ngân hàng có thể xử lý theo đúng quy định.

Hành lang pháp lý hỗ trợ các tổ chức tín dụng đẩy nhanh tiến trình xử lý nợ xấu hiện đã có, cụ thể các quy định pháp luật giúp khẳng định quyền của chủ nợ trong việc xử lý TSBĐ để thu hồi nợ. Tuy nhiên trên thực tế, các tổ chức tín dụng vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc xử lý TSBĐ để thu hồi nợ, từ khâu thu giữ cho tới khâu phát mại. Theo phản ánh của các ngân hàng, việc thu giữ TSBĐ hiện phụ thuộc khá nhiều vào thiện chí của bên vay. Tuy nhiên, không ít trường hợp con nợ chây ì không chịu bàn giao tài sản bảo đảm, thậm chí còn tạo ra tranh chấp giả trên tài sản này để cản trở việc thi hành án.

Tài sản bảo đảm chưa chắc “đảm bảo”

Tại hội thảo do Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam tổ chức gần đây, một đại diện của ngân hàng Vietcombank cho biết, vướng mắc phổ biến nhất trong quá trình xử lý TSBĐ thông qua thi hành án với các tổ chức tín dụng (TCTD) là thời gian thi hành án để xử lý tài sản còn chậm trễ, kéo dài do sự bất hợp tác của bên chủ tài sản trong tất cả các bước của quá trình thi hành án.

Tình trạng này diễn ra phổ biến ở nhiều địa phương như Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Đăk Lăk, Cần Thơ khiến thời gian thi hành án thường kéo dài từ 20 tháng trở lên. Thậm chí, có trường hợp khách hàng là Công ty cổ phần thương mại dược phẩm Nhật Tân (Hà Nội) với thời gian thi hành án kéo dài tới 10 năm nhưng vẫn chưa xong.

Ngoài ra, một số chủ tài sản liên tục tạo tranh chấp giả về quyền sở hữu tài sản đảm bảo qua việc khởi kiện ra tòa để kéo dài thời gian xử lý TSĐB.

Thực trạng này, theo đại diện Vietcombank, khiến quyền lợi hợp pháp của các TCTD không được bảo đảm. Ngoài ra, thời gian thi hành án kéo dài cũng gây tốn kém chi phí, giảm giá trị thu hồi nợ, làm tăng nguy cơ gây ra tổn thất cho TCTD và xã hội.

Trước đó, tại một hội thảo diễn ra cuối năm 2021, ông Vũ Minh Phương – Phó trưởng phòng công nợ thuộc Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) – cho biết, ngân hàng mới chỉ áp dụng biện pháp thu giữ TSĐB là khu đất trống hoặc động sản để xử lý nợ xấu theo quy định tại Nghị quyết 42.

Với bất động sản nhà là ở mà chủ tài sản đang sinh sống, ngân hàng chưa thể áp biện pháp này do khách hàng, chủ tài sản bất hợp tác trong việc xử lý tài sản bảo đảm.
Gian nan xử lý tài sản bảo đảm trên hành trình thu hồi nợ vay

Nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng có xu hướng gia tăng sau khi Thông tư 14 về phân loại nợ hết hạn vào ngày 30-6-2022 | Ảnh minh họa: Lê Vũ

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Quang Thái, Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự (THADS) thuộc Bộ Tư pháp, cho rằng việc xử lý TSBĐ của các TCTD thông qua THADS rất phức tạp do các vụ việc phải đưa ra tòa xét xử, thi hành án là những vụ việc mà các bên không thể tự giải quyết. Đáng lưu ý, nhiều vụ việc phát sinh tình huống nguồn gốc tài sản phức tạp, không đầy đủ rõ ràng hoặc có sự tranh chấp giữa các bên.

Cụ thể, sự việc giữa Công ty Tín Phát và BIDV phát sinh trường hợp không xác định được vị trí tài sản khi chấp hành viên kiểm tra hiện trạng tài sản, do thửa đất nằm trong cùng thửa đất với chủ sở hữu trước. Ngân hàng cũng không cung cấp được thông tin, không xác định được vị trí vì không kiểm tra hiện trạng thực tế tài sản tại thời điểm vay. Còn giá trị cho vay cũng cao rất nhiều so với giá trị thực tế của tài sản.

Ngoài ra, TSĐB thi hành án đa số là bất động sản với khả năng thanh khoản kém. Thậm chí, nhiều không đủ điều kiện pháp lý, bị sai lệch dẫn đến khi xử lý phải xác minh, họp bàn, trao đổi mất nhiều thời gian, kéo dài việc tổ chức thi hành án, theo ông Thái.

Bên cạnh đó, ý thức chấp hành pháp luật của một số bộ phận người dân còn hạn chế, lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để kéo dài, chống đối, cản trở việc thi hành án.

Tổng kết, Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI, cho rằng đặc điểm của thị trường tín dụng Việt Nam là cho vay có TSBĐ, trong đó phần lớn là thế chấp nhà đất. Và khó khăn vướng mắc lớn nhất khi phải xử lý phát mại tài sản là nhà đất thế chấp.

Theo đó, việc thu giữ được tài sản thế chấp chỉ có thể thực hiện khi người đang giữ tài sản đồng ý giao do Điều 301 về “Giao tài sản bảo đảm để xử lý” của Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu tòa án giải quyết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

Ngoài ra, TCTD có thể vi phạm nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của “tổ chức, cá nhân có liên quan”, gồm cả bên có tài sản thế chấp, theo quy định tại khoản 1, điều 3 về “Nguyên tắc xử lý nợ xấu” của Nghị quyết số 42 nếu tận dụng quyền thu giữ.

Cũng theo ông Đức, một trong năm điều kiện để thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm là “tại hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi xảy ra trường hợp xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật” theo quy định tại điểm b, khoản 2, điều 7 về “Quyền thu giữ tài sản bảo đảm” của Nghị quyết số 42.

Nhưng hầu hết các hợp đồng bảo đảm được xử lý theo nghị quyết trên (phải ký trước ngày nghị quyết có hiệu lực vào ngày 15-8-2017) không có thỏa thuận này.

Thông tin về về tiến độ thi hành án liên quan tới 76 TCTD, công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính, ông Đặng Văn Huy, Vụ trưởng Vụ Nghiệp vụ 1, Tổng cục THADS thuộc Bộ Tư pháp, cho biết các cơ quan thi hành án dân sự đang tiến hành tổ chức thi hành án với 37.058 việc trong năm 2022, số tiền trên 137.311 tỉ đồng. Con số này lần lượt chiếm tỷ trọng 4,31% về việc và 41,14% về tiền so với tổng số việc và tiền phải thi hành của toàn hệ thống.

Nhưng hiện cơ quan thi hành án mới hoàn thành xong 6.215 việc, đạt 27,66% tính trên tổng số việc có điều kiện thi hành án. Số việc chuyển kỳ sau là 30.843 việc, tương ứng với số tiền là xấp xỉ 114.767 tỉ đồng, gồm cả số việc chưa có điều kiện thi hành án.

Gỡ nút thắt liên quan đến tài sản bảo đảm

Để nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo NHNN với vai trò là đầu mối phối hợp với các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố tăng cường phối hợp giải quyết một số vấn đề, gồm:

  • Hoàn thiện cơ chế tiếp cận thông tin về tình trạng TSBĐ;
  • Áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ giao TSBĐ hoặc quyền xử lý TSBĐ tại Tòa án;
  • Thực hiện thứ tự ưu tiên thanh toán nghĩa vụ về thuế với số tiền thu được từ xử lý TSBĐ của khoản nợ xấu sau khi trừ chi phí bảo quản, thu giữ và chi phí xử lý TSBĐ;
  • Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn thẩm định giá khoản nợ;
  • Việc hoàn trả TSBĐ của khoản nợ xấu là vật chứng trong vụ án hình sự theo đề nghị của bên nhận bảo đảm là TCTD. Đồng thời, phân định rõ trách nhiệm của các đơn vị trong việc triển khai Nghị quyết số 42/2017/QH14.

Còn ông Luật sư Trương Thanh Đức khuyến nghị sửa Luật Nhà ở và bỏ quy định bắt buộc về thế chấp nhà đất phải có điều kiện phải ghi nhận tài sản trên giấy chứng nhận. Trước mắt, cần công bố Án lệ về việc thừa nhận thế chấp nhà ở cùng với quyền sử dụng đất trong trường hợp nhà ở chưa được ghi nhận trong sổ đỏ.

Khuyến nghị của ông Đức được đưa ra sau khi phát sinh nhiều trường hợp nhận thế chấp nhà đất để cho vay, nhưng nhà ở lại chưa được ghi nhận trên “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” (sổ đỏ).

Theo ông Đức, còn rất nhiều nhà ở, nhất là ở khu vực nông thôn, sổ đỏ mới chỉ ghi nhận quyền sử dụng đất, mà chưa ghi nhận quyền sở hữu về nhà ở. Trường hợp này dễ dẫn đến rủi ro, thậm chí là bế tắc về pháp lý nếu xảy ra việc tranh chấp hay thiếu sự hợp tác, thiện chí của bên thế chấp.

Ngoài ra, chuyên gia này cũng cho rằng cần sửa Luật Đầu tư theo hướng cho phép hoạt động dịch vụ đòi nợ, ít nhất là với TCTD.

“Luật Đầu tư năm 2020 cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ sẽ càng làm tăng thêm nguy cơ bội ước, chậm trễ cũng như thái độ chây ỳ, trì hoãn trong việc trả nợ. Việc cấm này là không hợp lý, vì bản thân dịch vụ đòi nợ là cần thiết, có lợi và vô hại. Còn sự nguy hại cần cấm chỉ là những thứ chung quanh, như đòi nợ thuê bất hợp pháp và lợi dụng, phạm pháp trong hoạt động đòi nợ thuê”, ông Đức cho biết.

Còn một đại diện Vietcombank đề xuất Tổng cục THADS và các cơ quan có thẩm quyền xem xét, nghiên cứu, đề xuất sửa đổi pháp luật liên quan đến công tác thi hành án theo hướng rút ngắn thời gian thực hiện các bước trong quá trình thi hành bản án. Chẳng hạn, cơ quan thi hành án chỉ cần thực hiện một lần việc cưỡng chế khi kê biên để có tài sản “sạch”, từ đó tạo thuận lợi cho việc bán đấu giá tài sản cũng như bàn giao tài sản cho người trúng đấu giá; đồng thời hạn chế sự phụ thuộc vào mức độ hợp tác của bên phải thi hành án trong khi bản án đã có hiệu lực pháp luật.

Báo cáo tổng kết Nghị quyết 42/2017/QH14 của NHNN cho biết quá trình xử lý nợ xấu còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu liên quan đến khâu xử lý TSBĐ. Nguyên nhân của vướng mắc này đến từ nhiều yếu tố như:

Nhiều khách hàng chây ỳ trả nợ, không hợp tác trong việc xử lý TSBĐ, ảnh hưởng đến việc hoàn thiện hồ sơ thủ tục pháp lý khi xử lý TSBĐ;

Quy trình, thủ tục tố tụng và thi hành án kéo dài gây tốn kém về mặt chi phí, giá trị TSBĐ bị giảm sút, đặc biệt là các TSBĐ là dây chuyền máy móc thiết bị, dẫn đến việc xử lý TSBĐ không đủ thanh toán cho các nghĩa vụ nợ phát sinh của khách hàng;

Nhiều tài sản thế chấp vướng mắc về điều kiện giao dịch, việc xác định giá trị tài sản chưa phù hợp với thực tế và thị trường nên việc xử lý bán tài sản khó khăn, TSBĐ của bên thứ 3 khó xử lý;

Thiếu cơ chế ưu đãi, thu hút nhà đầu tư có năng lực mua lại các công trình dự án bất động sản lớn đang triển khai dở dang (như việc tạo cơ chế thông thoáng, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến bán, chuyển nhượng các TSBĐ là các bất động sản, dự án đang đầu tư dở dang).

Vân Phong 

————–

Kinh tế Sài Gòn (Ngân hàng) 04-12-2022:

https://thesaigontimes.vn/gian-nan-xu-ly-tai-san-bao-dam-tren-hanh-trinh-thu-hoi-no-vay/

(637/2.261) #TSBĐ #42/2017/QH14

Bài viết 

318. Quản lý thị trường vàng: 'Chữ Tín' của...

Quản lý thị trường vàng: 'Chữ Tín' của thể chế phải quý hơn vàng. (NĐT) -...

Trích dẫn 

4.303. Hiện thực hóa tăng trưởng cao, năng lượng...

Hiện thực hóa tăng trưởng cao, năng lượng phải đi trước một bước. (TT)...

Bình luận 

460. Bình luận về cơ sở pháp lý xử phạt sản xuất...

Bình luận về cơ sở pháp lý xử phạt sản xuất nội dung trên mạng...

Phỏng vấn 

4733. “Phí 6.600 đồng/tháng trên VETC, ePass là khoản...

“Phí 6.600 đồng/tháng trên VETC, ePass là khoản phí chồng lên phí”. (DT) – Bình luận về vấn đề này, Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), cho rằng nếu việc thu phí hoàn toàn do Nhà nước ấn định hoặc đã có sự thỏa thuận với khách hàng thì không có gì bàn cãi. Tuy nhiên, theo luật sư, trường hợp này có nhiều điểm cần được làm rõ bởi người dân gần như buộc phải tham gia hệ thống thanh toán phục vụ thu phí không dừng. "Việc thu phí này gắn liền với việc thu phí giao thông, tuy không phải là "bắt" nhưng lại "buộc" gần như tất cả phải tham gia mà không còn sự lựa chọn nào khác, nhất là cách duy nhất để đi qua rất nhiều trạm thu phí hiện nay là phải thông qua tài khoản giao thông", luật sư nêu quan điểm. Theo ông, việc bất ngờ thông báo thu phí duy trì tài khoản hàng tháng khiến dư luận có quyền đặt câu hỏi là dựa trên cơ sở pháp lý nào? Chỉ thấy bất thình lình thông báo thu phí định kỳ hàng tháng, không theo quyết định của cơ quan nhà nước, cũng chẳng theo thỏa thuận thì đó là sự áp đặt, đánh úp khách hàng. Do đó, Luật sư Trương Thanh Đức cho rằng Chính phủ và bộ quản lý cần vào cuộc xem xét việc thu phí này có được phép thực hiện hay không và mức thu có hợp lý không? "Đây không phải là một dịch vụ thông thường, mà là gắn liền với khoản phí giao thông phải nộp theo quy định cụ thể của pháp luật, người nộp không có nhiều lựa chọn thay thế và hai doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có "vị trí thống lĩnh thị trường" cũng không cứ muốn là được", luật sư nói.   Nghịch lý “xe không chạy vẫn trả phí” Luật sư Trương Thanh Đức, cho rằng các đơn vị vận hành hệ thống thu phí không dừng hiện đã có nhiều nguồn thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ và đang có nhiều lợi thế, nhất là quy mô nền kinh tế, số lượng ô tô, số lượt nộp phí và số km lăn bánh liên tục gia tăng. Với công nghệ và thực tế như hiện nay, có thể so sánh với hàng tỷ giao dịch chuyển tiền hầu hết được miễn phí mà ngân hàng vẫn có lợi. "Sử dụng đường đã nộp đủ tiền dịch vụ, giờ lại thu thêm tiền duy trì tài khoản nhiều như vậy, nhân với vài triệu tài khoản thì tự dưng kiếm được số tiền khổng lồ. Đặc biệt, xe ít chạy, thậm chí cả năm không chạy, thì không phải nộp đồng phí giao thông nào, nhưng vẫn phải nộp phí duy trì tài khoản, kể cả trong tài khoản không có hay có nhiều tiền", luật sư nêu quan điểm. Theo luật sư Đức, kể cả đã có quy định pháp luật cho thu thì cũng phải xem xét điều chỉnh, còn nếu chưa có phải lập tức ban hành quy định cho làm hay yêu cầu cấm thu, chứ không thể bất thình lình đưa ra thông báo thu phí như vậy. "Nếu hôm nay được quyền làm vậy, thì liệu năm sau có được quyền tăng phí lên gấp đôi, gấp ba không?", luật sư đặt vấn đề. Nhân viên hỗ trợ tài xế dán thẻ ETC (Ảnh: Hoàng Giám). Minh họa sự khác biệt, luật sư Đức đưa ra ví dụ, nếu hàng phở ở trạm dừng nghỉ trên tuyến đường thu phí tăng giá lên gấp đôi, thì khách hàng có quyền lựa chọn ăn mỳ hay nhịn, nhưng khoản phí này dù tăng bao nhiêu, thì xe qua trạm thu phí cũng buộc phải cắn răng chịu đựng. "Nếu hàng phở giở trò thu thêm phí chuyển khoản thì thực khách có thể trả tiền mặt, còn phương tiện qua trạm thu phí không dừng, thì chỉ có cách duy nhất thanh toán qua tài khoản giao thông", luật sư Đức so sánh. Theo luật sư, tài khoản giao thông liên quan đến tài khoản ví điện tử hay ngân hàng gì đó trong trường hợp này là phương tiện, là cách thức tổ chức để phục vụ cho việc thu phí giao thông bắt buộc, chứ không phải dịch vụ giá trị gia tăng, chẳng phải để khách hàng tự do tiêu sài vào việc khác mà phải nộp phí duy trì tài khoản. Vì vậy, hoặc là Nhà nước chịu trách nhiệm, hoặc là các bên liên quan đến việc bán dịch vụ sử dụng cầu đường, hoặc nhà nước quy định cộng thêm vào phí giao thông (tăng phí để phân bổ) thì mới đúng đắn, đơn giản, hợp lý, công bằng, sòng phẳng, rõ ràng. Đặc biệt trong bối cảnh chi phí vận tải của chúng ta rất cao, người dân và doanh nghiệp ít có lựa chọn đường miễn phí, đã phải nộp phí giao thông rất nhiều thì càng cần phải cân nhắc điều tiết. "Người ta buộc phải trả phí cho tuyến đường bộ vận tải nhộn nhịp nhất là Hà Nội - Hải Phòng, vì không có đường song hành miễn phí, nay lại phải chi thêm từ 79.200 đến 792.000 đồng mỗi năm? Nếu chấp nhận cho thu thêm khoản phí này, thì cũng cần xem xét xử lý trọn gói, là một cấu phần trong khoản phí giao thông phải nộp cho nhà đầu tư, do Nhà nước không đủ nguồn lực đảm bảo hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng, văn hóa xã hội và đi lại của nhân dân", luật sư nói.

Tám luật 

334. ANVI xì luật hay Lạm bàn tám luật.

(ANVI) - “Lạm bàn tám luật” hay còn gọi là “ANVI xì luật” Chuyên...

Số lượt truy cập: 323,743